CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KHO TRONG LOGISTICS 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ KHO TRONG LOGISTICS 1. KHÁI NIỆM VỀ LOGISTICS VÀ QUẢN LÝ LOGISTICS 1. Khái niệm Logistics Logistics xuất hiện từ thời cổ đại, trong các cuộc chiến tranh của đế chế Hy Lạp và La Mã khi các binh sĩ vận chuyển, phân phối các nhu yếu phẩm như: lương thực, vũ khí, thuốc men,… đến các doanh trại.
Đến cuối thế kỉ 20, Logistics được ghi nhận như một chức năng kinh tế, một công cụ hữu hiệu mang lại thành công cho các doanh nghiệp. Trải qua các giai đoạn phát triển đến nay có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về Logistics. Hãy cùng xem một số khái niệm dưới đây để hiểu rõ hơn về Logistics là gì? Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, thực hiện vận chuyển và lưu trữ hàng hóa hiệu quả từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ đến điểm tiêu thụ cuối cùng là người tiêu dùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế. Mục tiêu của logistics là đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách kịp thời và tiết kiệm chi phí.
Các định nghĩa khác về Logistics: Theo quan điểm của WTO, Logistics được định nghĩa là chuỗi cung ứng dịch vụ, bao gồm lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát sự dịch chuyển và lưu kho hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Dịch vụ logistics truyền thống bao gồm các dịch vụ vận tải, kho bãi, giao nhận, các dịch vụ giá trị gia tăng của bên thứ ba (như làm việc theo yêu cầu của khách hàng). Năm 1998, Christopher định nghĩa logistics như sau: Logistics là quá trình quản lý chiến lược mua sắm, vận chuyển và lưu trữ nguyên liệu, các bộ phận và hàng tồn kho thành phẩm cùng luồng thông tin có liên quan thông qua tiến trình tổ chức và thực hiện các kênh tiếp thị. Logistics không dừng lại ở việc xử lý hay vận chuyển, mà còn bao gồm tổ hợp các hoạt động như truyền thông, dịch vụ khách hàng, nội địa hóa, hậu cần (Stock và Lambert, 2001) và lập kế hoạch có liên quan mật thiết đến thương mại và sản xuất (Grant và cộng sự, 2006).
Năm 2003, trong tác phẩm Supply Chain Strategy, Chủ tịch Học viện Nghiên cứu Logistics Georgia, Hoa Kỳ, ông Edward Frazelle đã nhận định: “Logistics là quá trình lưu chuyển của vật tư, thông tin và tiền tệ từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng”. Cũng trong năm 2003, tại Việt Nam, GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân đã định nghĩa trong tài liệu “Logistics - Những vấn đề cơ bản” như sau: “Logistics là quá trình tối ưu hóa các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ 5 cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Theo đó, Logistics là các hoạt động (dịch vụ) liên quan đến hậu cần và vận chuyển, bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan,… Hay hiểu theo cách khác, logistics là tập hợp các hoạt động của nhiều ngành nghề, công đoạn trong một quy trình hoàn chỉnh. Logistics là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên 3 khía cạnh chính, đó là logistics sinh tồn (liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống), logistics hoạt động (liên quan tới quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào vào trong, đi qua và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước khi đi đến tay người tiêu dùng cuối cùng) và logistics hệ thống (giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động).
Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp: Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng. Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu tố logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình. Logistics còn hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp. Theo khái niệm “5 right” thì: “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hơp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm” (Right items, right place, right time, righ condition, right cost - Douglas M.
Theo nghĩa đơn giản nhất, logistics là một phần của chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến quản lý và điều phối quá trình luân chuyển hàng hóa như đóng gói, vận chuyển, lưu kho và bảo quản hàng hóa cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Hiện tại, logistics được chia thành tám loại: chi phí vận chuyển gia tăng, nhu cầu về hiệu quả sản xuất, triết lý tồn kho mới, vai trò của khách hàng, khoa học, công nghệ và các cuộc cách mạng CNTT, hệ thống JIT, tái chế (công nghiệp xanh) và xu hướng trong chuỗi bán lẻ và phân phối. Tự do trao đổi hàng hóa cũng đồng nghĩa với sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngành, các công ty, doanh nghiệp trong đó logistics đóng vai trò quan trọng trong thương mại, cũng như cạnh tranh về giá sản phẩm, dịch vụ giữa các doanh nghiệp. Do đó, với quản lý hậu cần đã nhận được nhiều sự quan tâm từ các doanh nghiệp hơn bao giờ hết.
Khái niệm quản lý Logistics Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (CSCMP), quản trị logistics được định nghĩa khá đầy đủ: “Quản trị logistics là một phần của quản trị Thư viện ĐH Thăng Long 6 chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin”. Dựa theo quá trình Logistics được phân loại như sau: - Inbound Logistics - Logistics đầu vào: quá trình hoạt động kiểm soát nguồn nguyên liệu thô hoặc bán thành phẩm từ nhà sản xuất hoặc nhà cung ứng, bao gồm phân phối, xử lý vật liệu, vận chuyển, kiểm soát tồn kho, lưu trữ hàng hóa,… đẩy nguồn nguyên liệu cho các đầu mối từ sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm.
- Outbound Logistics - Logistics đầu ra: quá trình vận chuyển, lưu trữ và phân phối hàng hóa đến nhà bán buôn, bán lẻ, người tiêu dùng cuối cùng sao cho tối ưu địa điểm, thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, người mua. - Reverse Logistics - Logistics ngược: quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả dòng chảy của nguyên liệu, bán thành phẩm và thông tin có liên quan từ các điểm tiêu thụ đến điểm xuất xứ với mục đích thu hồi lại giá trị hoặc xử lý một cách thích hợp Doanh nghiệp sản xuất nào cũng sẽ quan tâm đến các chiến lược Logistics bởi vì có chiến lược Logistics phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, thời gian và công sức. Vì vậy, trên cơ sở Logistics tổng thể (Global Logistics) người ta chia hoạt động logistics thành 3 mảng chính: - Supply Chain Managment Logistics – Logistics quản lý chuỗi cung ứng. - Transportation Management Logistics – Logistics quản lý vận chuyển hàng hóa.
- Warhousing/Inventery Management Logistics - Logistics về quản lý lưu kho, kiểm kê hàng hoá, kho bãi. Mục tiêu chung của quản lý hoạt động logistics là phát triển doanh số trên cơ sở cung cấp trình độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lược với tổng chi phí thấp nhất. Mục tiêu này đòi hỏi phải tối ưu hóa dịch vụ khách hàng, có nghĩa là phải đảm bảo trình độ dịch vụ khách hàng đem lại khả năng lợi nhuận cao nhất. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: Đáp ứng nhanh, tối thiểu hóa các sai lệch và đảm bảo mục tiêu chi phí.
KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ KHO 1. Khái niệm chung về kho hàng Khái niệm về kho hàng - Là một nơi để bảo quản, lưu trữ hay chứa hàng tạm thời và như một vùng đệm trong chuỗi cung ứng. - Là điểm trung chuyển, nơi tất cả hàng hóa được tiếp nhận sẽ được gửi đi nhanh nhất, hiệu quả nhất có thể. - Hay nói một cách đầy đủ hơn thì kho là nơi cất giữ, lưu trữ nguyên liệu, vật tư, hàng hóa, thành phẩm trong quá trình chuyển từ điểm đầu tới điểm cuối của dây chuyền cung ứng.
Mang lại khả năng lưu trữ bảo quản và chuẩn bị hàng hóa cho doanh nghiệp, đảm bảo số lượng hàng hóa luôn được cung ứng liền mạch cả về chất lượng và số lượng. - Đóng vai trò là kho tĩnh - với mục đích chính là kết nối sự sẵn có của hàng hóa phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển hàng hóa từ nhà cung cấp đến khách hàng, đáp ứng nhu cầu kịp thời và hiệu quả về chi phí. (Van den Berg (2011)) Vai trò của kho hàng Kho hàng là nơi để lưu trữ và bảo quản hàng hóa cho đến khi chúng được sử dụng hoặc giao hàng cho khách hàng. Kho hàng đảm bảo rằng hàng hóa được bảo vệ khỏi hư hỏng, mất mát hoặc thất thoát.
Kho hàng đảm nhận vai trò quản lý hàng hóa, bao gồm việc kiểm tra số lượng, kiểm tra chất lượng, theo dõi hạn sử dụng và vị trí của hàng hóa trong kho. Qua việc quản lý chặt chẽ, kho hàng giúp đảm bảo sự đáng tin cậy và khả năng cung cấp hàng hóa theo yêu cầu của khách hàng. Đảm tính tính liên tục cho quá trình sản xuất và phân phối hàng hoá. Nhu cầu tiêu dùng của thị trường phụ thuộc và rất nhiều yếu tố bao gồm cả chủ động và khách quan.
Biến động đó có thể theo mùa vụ, thời điểm được hoạch định lên dự đoán từ trước tuy nhiên cũng có những lý do bất ngờ kiến thị trường biến động khó lường.