CHƯƠNG I1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOAT DONG GIAO NHAN 1.1 Khái quát về hoạt động giao nhận 1.1 Khái niệm về hoạt động giao nhận hàng hóa Dịch vụ giao nhận được Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc té FIATA (International Federation of Freight Forwarders Associations) dinh nghia nhuw sau: “Giao nhdn van tai Ia bat kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến chuyén cho (được thực hiện bởi một hoặc nhiễu dạng phương tiện vận tải), gom hàng, lưu kho, xếp đõ, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như dịch vụ tư vấn hay có liền quan đến các dịch vụ trên, kế cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”. Nguôn: LIA1A, 1996, FIA1A Model Rules for Freight Forwarding Services. Như vậy, có thê hiệu “giao nhận hàng hóa là một hành vì thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi hàng (Shipper), sau đó tổ chức vận chuyên, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tò và các dịch vụ khác có liên quan đề giao hàng cho người nhận (Consignee) theo sự ủy thắc của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác ”. 11,2 Vai trò của hoạt động giao nhận hàng hóa Toàn cầu hóa kinh tế thế giới là xu thế tất yếu của thời đại ngày nay.
Sự phát triển sôi động của thị trường toàn câu đã làm cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới tăng lên một cách mạnh mẽ. Điều này giúp cho những nhu cầu về vận tải, kho bãi, các dịch vụ phụ trợ,.ngày cảng lớn và vì vậy, vai trò của hoạt động giao nhận hàng hóa ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết: - Hoạt động giao nhận tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm mà không cần thiết phải có sự tham gia hiện diện của người gửi cũng như người nhận hàng. - Giao nhận giúp cho người chuyên chở đây nhanh tốc độ quay vòng của các phương tiện vận tải, tận dụng một cách tối đa và có hiệu quả dung tích và tai trọng của các phương tiện vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ khác. - Giao nhận giúp đây nhanh quá trình hội nhập giao thương của nhiều quốc gia, tăng tỉnh hữu nghị giữa các nước, giúp cho nền kinh tế thé giới sôi động và phát triên mạnh mẽ.
- Hoạt động giao nhận nhanh chóng và hiệu quả sẽ góp phần giúp giá cả hàng hóa giảm và thị trường sẽ ôn định hơn. - Đặc biệt, giao nhận sẽ giúp cho các nhà xuất nhập khâu giảm bớt các chỉ phí như chi phí xây dựng kho bãi, mua phương tiện vận tải, tiết kiệm thời gian làm các thủ tục cho hàng hóa xuất nhập khâu .Điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khâu tập chung vào chuyên môn sản xuất của mỉnh, nâng cao chất lượng sản phẩm.2 Khái quát về người giao nhận 1.1 Khải niệm người giao nhận Hiện nay, chưa có khái niệm “người giao nhận” nào được thông nhất và được Quốc tế công nhận. Người ta thường hiểu rằng, người hay doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận được gọi là người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder, Forwarding Agent). Theo FIATA nhận định rằng: “Người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder, Forwarding Agent) là người lo toan để hàng hóa được chuyên chỏ theo hợp đồng ty thác và hành động vi lợi ích của người ty thác mà bản thân anh ta không phải là người chuyên chở .Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho, , làm thủ tục hải quan, kiểm hóa.
Neguon: FIATA, 1996, FIATA Model Rules for Freight Forwarding Services.2 Trach nhiệm của người giao nhận 1.1 Khi người giao nhận là đại lý của chu hang (Agent) Tùy theo chức năng của người giao nhận, người giao nhận phải thực hiện đây đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết và phải chịu trách nhiệm À ve: - Giao hàng không đúng chỉ dẫn. - Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm cho hàng hóa mặc dù đã có hướng dẫn. - Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải quan. - Chở hàng đến sai nơi quy định.
- Giao hàng cho người không phải là người nhận. - Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng. - Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết hoặc không hoàn lại thuế. - Những thiệt hại về tài sản và người của người thứ ba mà anh ta gây nên.
Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về hành vi lỗi lầm của người thứ ba như người chuyên chở hoặc người giao nhận khac,.néu anh ta chứng minh được là đã lựa chọn cân thận.2 Khi người giao nhận là người chuyên chở (Principdl carrier) Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở chính, là người nhận ủy thác, với tư cách là một bên ký hợp đồng độc lập đảm nhận trách nhiệm với danh nghĩa của minh thực hiện các dịch vụ do khách hàng yêu cầu. Chịu trách nhiệm về những hành vị và lỗi lâm của người chuyên chở, của người giao nhận khác mà họ thuê để thực hiện hợp đồng vận tải. Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận do luật lệ của các phương thức vận tải quy định. Khi dong vai trò là người chuyên chở, các điều kiện kinh doạnh áp dụng có công ước quốc tế hoặc các quy tắc do Phòng thương mại quốc tế ban hành.
Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng của hàng hóa phát sinh từ những trường hợp sau đây: - Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy thác. - Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp. - Do nội tỷ hoặc bản chất của hàng hóa. - Do chiến tranh, đình công.
- Do các trường hợp bất khả kháng. Ngoài ra, người giao nhận không chịu trách nhiệm về mất khoản lợi đáng lẽ khách hàng được hưởng về sự chậm trễ hoặc giao nhận sai địa chỉ mà không phải do lỗi của minh.3 Wui trò của các công ty dich vu giao nhận Ngày nay, không thể phủ nhận vai trò to lớn của các công ty dịch vụ giao nhận bởi: - Các doanh nghiệp vận chuyển (các hãng tàu biên, hãng hàng không, công ty đường sắt) thường sẽ chú trọng và tập trung vào chuyên môn của mình là vận chuyên hàng hóa từ cảng đến cảng, từ ga đến ga. Việc tô chức vận chuyên hàng hóa từ cảng hoặc ga về đến kho, cơ sở của người nhận hàng và giải quyết các dịch vụ thủ tục kèm theo thường do các công ty kimh doanh dịch vụ giao nhận đảm nhận. - Các công ty dịch vụ giao nhận là những đơn vị hoạt động chuyên nghiệp, nắm được nhiều đầu mối quan hệ, thông tin với các hãng tàu, doanh nghiệp vận tải, công ty bảo hiểm, giám định nên có thể tìm được cước phí tốt nhất, trong thời gian nhanh nhất.
- Công ty dịch vụ giao nhận có kinh nghiệm và chuyên môn nên họ quen thuộc với các thủ tục hành chính, hải quan, quen với các loại chứng từ, vậy nên họ có thê làm các loại thủ tục, giấy tờ một cách nhanh chóng, chính xác, tránh mat thoi gian chờ đợi hoặc làm di lam lai. - Công ty dịch vụ giao nhận có nhiều khách hàng là các chủ hàng khác nhau, nếu là những lô hàng lẻ LCL, họ có thể gom hàng từ nhiều chủ hàng, sau đó đóng chung vào một container hay một chuyến hàng, giúp giảm chỉ phí đáng kê cho chủ hàng. - Trong một số trường hợp, công ty dịch vụ giao nhận còn có thê làm thay một số việc khác của chủ hàng như quản lý hàng tổn kho, làm việc với các đại lý,.hoặc đóng vai trò tư vấn, thậm chí cấp tín dụng (thông qua việc cho phép trả tiền chậm) cho chủ hàng. - Việc thuê công ty dịch vụ giao nhận sẽ giúp chủ hàng tiết kiệm nhân lực cho công tác giao nhận, tạo điều kiện để chủ hàng tập trung vào lĩnh vực kinh doanh của chính mình là sản xuất hoặc tìm kiếm khách hàng.4 Tổng quan các bài nghiên cứu khoa học liên quan đến dịch vụ giao nhận và chuyển đổi số trong các doanh nghiệp Logistics Từ cơ sở lý luận trên, có thê thay dịch vụ giao nhận có vai trò vô cùng quan trọng và là một thành phần không thể thiếu đối với nên kinh tế Việt Nam.
Bên cạnh đó, thị trường hoạt động của dịch vụ này cũng vô cùng sôi nỗi và đây Sự cạnh tranh. Trong đó, một số thành phố như Hồ Chí Minh, Hải Phòng,. là một trong các thành phố hàng đầu của Việt Nam có đây đủ lợi thé dé phat triển mạnh mẽ dịch vụ giao nhận. Chính vì vậy, có không ít các bài nghiên cứu xoay quanh chủ đề dịch vụ giao nhận với mục đích cải thiện và phát triển.
Trong đó, phải kê đến: 1) Bài nghiên cứu khoa học “Điều tra các nhân tổ tác động đến hoạt động chuyển đổi số trong các doanh nghiệp logisticstai khu vực Hải Phòng” của tác giá Lê Sơn Tùng. Với chủ đề này, tác giả đã làm khảo sát đối với 283 các nhà quản lý trong các công ty giao nhận và các doanh nghiệp logistíc. Trong đó, bài đã áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với ba nhân tổ tác động đến quyết định chuyên đôi số của doanh nghiệp là: Áp lực từ cơ quan quản lý — cụ thể là các yêu cầu, quy định của các cơ quan quản lý mà các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận và logistics phải tuân thủ. Nên việc chuyển đổi số cũng phải phủ hợp với các yêu cầu và quy định trên.
Thứ hai là áp lực tiêu chuân hoá — bắt nguồn từ các yêu cầu kĩ thuật của các tổ chức và hiệp hội liên quan đến lĩnh vực giao nhan va logistics để thực hiện các hoạt động một cách chính xác và chuyên nghiệp. Nhân tổ tác động cuối cùng là áp lực bắt chước - một số doanh nghiệp không đủ điều kiện kinh tế hay còn chưa chắc chắn, am hiểu đối với việc đầu tư một khoản dài hạn và tương đối lớn cho chuyên đổi số, thi họ thường có xu hướng bất chước — tức là lay một công ty hỉnh mẫu để làm theo vi ho tin rằng có thê thu được lợi ích tương tự. Nhưng để thành công trong việc cạnh tranh thì yêu cầu các doanh nghiệp phải có sự bứt phá và khác biệt.