Chương 1: Tổng quan về logistics của các doanh nghiệp Thương mại điện tử - Chương 2: Mô hình China Smart Logistics của Alibaba - Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp TMĐT Việt Nam Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Trần Sĩ Lâm, người đã tận tình hướng dẫn, kiểm tra và chỉ bảo các phương pháp nghiên cứu cũng như các kỹ năng cần thiết giúp em hoàn thành khóa luận này. Mặc dù đã cố gắng hết sức, tuy nhiên do hạn chế về kiến thức của người viết cũng như những khó khăn trong việc tìm kiếm và thu thập tài liệu nên khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Sinh viên thực hiện, Đoàn Thị Thùy Dung Tieu luan 4 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TMĐT 1. Tổng quan về Doanh nghiệp Thƣơng mại điện tử 1. Khái niệm Thương mại điện tử Thương mại điện tử được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, như “thương mại điện tử” (Electronic commerce), “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mại không giấy tờ” (paperless commerce) hoặc kinh doanh điện tử (e- business). Tuy nhiên, “thương mại điện tử” là tên gọi phổ biến nhất và được dùng thống nhất trong các văn bản hay công trình nghiên cứu.
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa thương mại điện tử được chấp nhận trên thế giới. Nếu tiếp cận theo nghĩa hẹp, “Thương mại điện tử bắt đầu bằng việc các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua bán hàng hóa và dịch vụ, các giao dịch có thể giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), hoặc giữa các doanh nghiệp với khách hàng cá nhân (B2C), hoặc giữa các cá nhân với nhau (C2C”). (Nguyễn Văn Hồng, 2013) Nếu tiếp cận theo nghĩa rộng, Thương mại điện tử được các tổ chức quốc tế định nghĩa như sau: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa TMĐT gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ chức và cá nhân dựa trên việc xử lý và truyền đi các dữ liệu đã được số hóa thông qua các mạng mở (như Internet) hoặc các mạng đóng có cổng thông với mạng mở (như AOL) (Nguyễn Văn Hồng, 2013) Hoặc, theo Ủy ban của Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển – UNCTAD, trên góc độ doanh nghiệp “TMĐT là việc thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử”. (Nguyễn Văn Hồng, 2013) Ở Việt Nam, tại Nghị định về Thương mại điện tử của Chính phủ ban hành ngày 16/05/2013 có ghi rõ tại điều 3 khoản 1: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng Tieu luan 5 phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”.
Dù khác nhau ở phạm vi tiếp cận, tuy nhiên tựu chung lại, các quan điểm đều cho rằng Thương mại điện tử là hình thức thương mại được hình thành trên nền tảng của các phương tiện điện tử và hệ thống mạng. Các mô hình doanh nghiệp Thương mại điện tử Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các mô hình TMĐT/ doanh nghiệp TMĐT, nhưng điển hình nhất là cách phân loại theo đối tượng tham gia. Theo Amir Manzoor (2010), các mô hình TMĐT phổ biến hiện nay gồm có: B2B (Business-to-business): là loại hình thương mại được tiến hành giữa các doanh nghiệp với nhau thông qua các phương tiện điện tử B2C (Business-to-consumer): là loại hình doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa và dịch vụ tới người tiêu dùng. Quá trình người tiêu dùng lựa chọn, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng đều được tiến hành thông qua các phương tiện điện tử.
B2B2C (Business-to-business-to-consumer): là loại hình doanh nghiệp sử dụng dịch vụ B2B để hỗ trợ các doanh nghiệp B2C. Nói cách khác, doanh nghiệp B2B2C cung cấp các dịch vụ (ví dụ gian hàng ảo) để giúp người bán (ở đây là các doanh nghiệp B2C) tiến hành các hoạt động bán hàng tới người mua. C2C (Consumer-to-consumer): là loại hình thương mại được tiến hàng giữa các cá nhân và người tiêu dùng với nhau. Hình thái dễ nhận biết nhất của mô hình này là các website bán đấu giá trực tuyến, rao vặt trên mạng.
Ngoài ra còn có mô hình Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (B2G), giữa người tiêu dùng với doanh nghiệp (C2B), giữa doanh nghiệp với nhân viên (B2E), giữa các cơ quan nhà nước với nhau (G2G), giữa cơ quan nhà nước với nhân viên (G2E), giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp (G2B), giữa cơ quan nhà nước với người dân (G2C),…. Tieu luan 6 Theo cách phân loại của Amir Manzoor, khóa luận này tập trung nghiên cứu hoạt động logistics của loại hình doanh nghiệp B2B2C. Ngoài ra, theo luật Việt Nam, cụ thể theo Nghị định về TMĐT số 52/2013/NĐ-CP ban hành ngày 16 tháng 05 năm 2013, Điều 24 có ghi rõ: “Các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử bao gồm: 1. Các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập website thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng).
Các thương nhân, tổ chức thiết lập website thương mại điện tử để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ (thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử). Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng website của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người bán). Các thương nhân, tổ chức, cá nhân mua hàng hóa hoặc dịch vụ trên website thương mại điện tử bán hàng và website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (khách hàng). Các thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng và cho thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng).
Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng thiết bị điện tử có nối mạng khác để tiến hành hoạt động thương mại.” Điều 25 Khoản 2 ghi rõ: Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử là website thương mại điện tử do thương nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại. Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử bao gồm các loại sau: Tieu luan 7 - Sàn giao dịch thương mại điện tử - Website bán đấu giá trực tuyến - Website khuyến mại trực tuyến - Các loại website khác do Bộ Công Thương quy định Ngoài ra Điều 35 Khoản 1 quy định: Thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử là thương nhân, tổ chức thiết lập website thương mại điện tử để các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên đó. Theo cách quy định của Nghị định TMĐT, Khóa luận này tập trung nghiên cứu về hoạt động logistics của loại hình thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT, cụ thể là Thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT. Hoạt động logistics của doanh nghiệp Thƣơng mại điện tử 1.
Khái niệm logistics đối với doanh nghiệp TMĐT 1. Khái niệm logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hi lạp - logistikos - phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là hậu cần) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. (An Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 2011) Theo một định nghĩa được coi là đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất của Hội đồng quản lý Logistics Hoa Kỳ (Council of logistics Management) thì Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng (Hoàng Văn Châu, 2009) Theo quan điểm “5 đúng” (5 rights) thì: logistics là quá trình cung ứng đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho Tieu luan 8 khách hàng tiêu dùng sản phẩm” (Right items, right place, right time, right condition, right cost – Douglas M. Lambert & cộng sự, 1998) Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2006), logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
Luật Thương mại 2005 không ghi rõ định nghĩa “Logistics” mà đưa ra khái niệm “dịch vụ Logistics” như sau: Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hay nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Logistics trong Thương mại điện tử Logistics trong Thương mại điện tử không chỉ đơn thuần là dịch vụ vận chuyển mà thực tế bao gồm nhiều hơn thế. Đó là quá trình hoạch định chiến lược và phát triển tất cả các yếu tố cần thiết của hệ thống, quy trình, cơ cấu tổ chức và tác nghiệp hậu cần để hiện thực hóa và vật chất hóa cho hoạt động thương mại điện tử. Hay nói cách khác, Joe Khoo (2013) cho rằng logistics trong Thương mại điện tử là toàn bộ quá trình từ lúc khách hàng đặt mua hàng hóa (Point of sales) đến lúc sản phẩm được giao tận tay tới người tiêu dùng.
Nếu tiếp cận theo góc độ lịch sử phát triển của logistics thì logistics thương mại điện tử (e-logistics) chính là giai đoạn phát triển tiếp theo của logistics truyền Tieu luan 9 thống, với việc ứng dụng Internet và sử dụng các phương tiện điện tử vào các hoạt động của logistics (Đoàn Thị Hồng Vân, 2006) 1. Vai trò và đặc trưng của logistics trong doanh nghiệp TMĐT 1.