CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về hiệu quả kinh doanh và phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Theo luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu thực hiện HĐKD với mục đích sinh lời”. Như vậy có thể thấy, tất cả DN trên thị trường đều kinh doanh có mục đích và lợi nhuận rõ ràng, được thực hiện thông qua các hoạt động thực tế.
Hoạt động của DN thể hiện bằng sự tự sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hay cung cấp dịch vụ với bản chất là gia tăng vốn trong DN. Quản lý, vận hành DN làm sao để tạo ra giá trị từ những khoản đầu tư là bài toán lớn theo sát DN trong quá trình HĐKD và nâng cao HQKD là một trong những câu hỏi bắt buộc đặt ra cho tất cả các nhà quản trị DN. Với mỗi hình thái xã hội khác nhau, những quan hệ xã hội không tương đồng của mỗi một thời kỳ kinh tế dẫn đến có các quan điểm về khái niệm phạm trù HQKD được đánh giá không giống nhau. Quan điểm thứ nhất của “cha đẻ lý luận nghiên cứu thị trường” – Adam Smith cho rằng: “HQKD là kết quả của hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” (Kinh tế thương mại dịch vụ - Nhà xuất bản thống kê).
Quan điểm của ông đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, quan điểm này chỉ đúng trong trường hợp DN sản xuất kinh doanh hiệu quả với tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào. Nhận định của nhà nghiên cứu Adam Smith không giải thích được kết quả kinh doanh tăng do chi phí mở rộng sản xuất tăng hoặc mở rộng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một mức kết quả với chi phí khác nhau, quan điểm này chúng đều có hiệu quả.
Quan điểm này phản ánh tư tưởng trọng thương. Quan điểm thứ hai cho rằng: “HQKD là tỷ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Quan điểm này được xây dựng nhằm so sánh giữa kết quả đạt được với phần chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Quan điểm này đánh giá HQKD 6 thông qua phần kết quả SXKD cuối cùng.
Nhược điểm của quan niệm này là không đánh giá hết được toàn bộ hiệu quả HĐKD do công thức chỉ xem xét tới hiệu quả trên cơ sở so sánh chênh lệch tăng thêm của chi phí và kết quả mà không xem xét tới chi phí hay kết quả ban đầu. Quan điểm thứ ba nhận định: “HQKD được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Quan điểm này chỉ ra mối quan hệ bản chất của HQKD khi gắn liền kết quả với toàn bộ chi phí và coi hiệu quả phản ánh thông qua trình độ sử dụng các yếu tố SXKD. Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu là HĐKD nên DN không hề cố định tuyệt đối một trong hai yếu tố chi phí đầu vào hay kết quả đầu ra.
Do vậy, quan điểm này không giải thích được mối tương quan giữa lượng và chất của kết quả và chi phí khi chất luôn ổn định và lượng luôn biến đổi. Ngoài ra, quan niệm kinh doanh theo P.Nordhaus thì cho rằng: “HQKD diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng tháng mà không cắt giảm một loạt hàng hóa khác”. Điều này đề cập tới việc phân bổ nguồn lực, sản xuất trên đường giới hạn nhằm đem lại hiệu quả sản xuất tối đa. Từ những khái niệm trên, có thể khái quát khái niệm về HQKD: Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực, tài chính của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Khái niệm về phân tích hiệu quả kinh doanh Phân tích HQKD là việc đi sâu nghiên cứu theo yêu cầu của hoạt động quản lý kinh doanh căn cứ vào số liệu trên các BCTC, các thông tin kinh tế bằng phương pháp phân tích thích hợp nhằm làm rõ chất lượng HĐKD và đưa ra phương án nhằm nâng cao HQKD của DN. Vai trò của phân tích hiệu quả kinh doanh Các thông tin thu được từ việc phân tích HQKD của DN sẽ là bản khảo sát rõ ràng nhất phản ánh đúng tình hình sử dụng nguồn lực nhằm đem lại lợi ích kinh tế. Mọi hoạt động trong DN đều cần cân nhắc các phương án làm sao cho nguồn lực được sử dụng tối ưu nhất cũng như có thể mở rộng được thị phần trên thị trường cạnh tranh đầy khốc 7 liệt như hiện nay. Nếu không tận dụng và phát huy tối đa giá trị cốt lõi của DN thì HĐKD của DN sẽ diễn ra rất khó khăn, lâu dài sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản.
Bên cạnh đó, DN không những phải cạnh tranh với các DN trong nước mà còn phải cạnh tranh cả với DN nước ngoài. Do vậy để có thể đứng vững, tồn tại và phát triển trên thị trường thì mỗi DN cần chú trọng đến việc phân tích HQKD nhằm nâng cao hình ảnh trong mắt người tiêu dùng. Những đối tượng sẽ quan tâm và có ảnh hưởng trực tiếp đến HQKD của DN bao gồm: * Đối với nhà quản trị doanh nghiệp Phân tích HQKD giúp cho nhà quản trị có cái nhìn khách quan và cụ thể về tình hình hoạt động của Công ty. Từ đó, nhà quản trị sẽ xây dựng và phát triển các phương án kinh doanh ngắn, trung và dài hạn phù hợp với ngành nghề, mô hình hoạt động của DN.
Phân tích HQKD giúp nhà quản trị quản lý tốt chi phí, sử dụng có hiệu quả tài sản và vốn trong quá trình hoạt động, tạo điều kiện cho DN ổn định và phát triển lâu dài trên thị trường. * Đối với người lao động Khi DN nâng cao HQKD đồng nghĩa với chất lượng cuộc sống của người lao động được thay đổi theo chiều hướng tốt. DN sẽ có chính sách tăng lương, thưởng, phụ cấp phù hợp. Điều này không chỉ giúp họ đảm bảo được lợi ích cá nhân mà còn góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần để làm việc hiệu quả, an tâm công tác, tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cho DN.
* Đối với các nhà đầu tư Các nhà đầu tư là những người góp vốn để DN hoạt động, lợi ích mà họ thu được phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động và chính sách phân phối lợi nhuận của DN. Nếu DN hoạt động không hiệu quả, nhà đầu tư dài hạn phải đối mặt với nguy cơ vốn không sinh lời, thậm chí mất vốn. Do vậy, khả năng sinh lời từ vốn đầu tư là mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà đầu tư. Thông tin về hiệu quả HĐKD hằng năm của DN giúp cho các nhà đầu tư có thể dự đoán chính xác xu hướng phát triển và tiềm năng tăng trưởng của 8 DN, qua đó nhận định về triển vọng thu lợi của họ từ việc đầu tư vào DN và đưa ra những quyết định phù hợp.
Về phía DN, để thu hút được vốn từ các nhà đầu tư này, DN phải hoạt động có hiệu quả và tiến hành phân tích hiệu quả HĐKD của mình, cung cấp các thông tin đó cho các nhà đầu tư để thuyết phục họ bỏ vốn vào DN. * Đối với các đối tượng cho vay dài hạn Đối với ngân hàng, hay các tổ chức tín dụng thì mục đích cuối cùng là thu hồi vốn và sinh lời. Việc cho vay dài hạn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao, khả năng thanh toán phụ thuộc lớn vào hiệu quả hoạt động của DN. Do vậy, các nhà cho vay dài hạn chỉ quyết định cho vay khi có cơ sở chắc chắn về khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của DN.
Phân tích hiệu quả HĐKD để làm rõ về khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của DN là nhiệm vụ của DN nếu muốn thuyết phục ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác và các nhà cung cấp yên tâm quyết định cho DN vay vốn dài hạn. * Đối với các cơ quan chức năng của Nhà nước (cơ quan thuế, kiểm toán nhà nước, cơ quan thống kê) Thông qua các chỉ tiêu phản ánh HQKD, hiệu quả sử dụng vốn để kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ của DN đối với ngân sách Nhà nước thông qua các khoản thuế (là chủ yếu), phí và lệ phí. Nhà nước lại sử dụng những nguồn này để đầu tư cho việc phát triển xã hội như xây dựng cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, … tạo môi trường kinh doanh tốt cho DN. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng Nhà nước kiểm tra việc thực hiện luật kinh doanh, các chế độ tài chính của DN có đúng không, góp phần hoàn thiện chế độ tài chính nhằm thúc đẩy HĐKD phát triển.
Tóm lại, thông tin từ việc phân tích HQKD rất hữu ích với nhiều đối tượng khác nhau, từ đó giúp đưa ra các quyết định kinh doanh có lợi cho từng đối tượng. Quy trình và tài liệu sử dụng phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Quy trình phân tích hiệu quả kinh doanh 9 Muốn công tác phân tích hiệu quả kinh doanh mang ý nghĩa thiết thực, làm cơ sở tham mưu cho các nhà quản lý đưa ra các giải pháp nâng cao HQKD của mình, thì việc phân tích phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Tính đầy đủ: nội dung và kết quả phân tích phụ thuộc rất nhiều vào sự đầy đủ của nguồn tài liệu sưu tập. Tính chính xác: chất lượng phân tích HQKD phụ thuộc rất nhiều vào tính chính xác của nguồn số liệu khai thác; sự chính xác khi lựa chọn phương pháp phân tích, chỉ tiêu dùng để phân tích.
Tính kịp thời: sau mỗi thương vụ hoặc chu kỳ SXKD phải kịp thời tổ chức phân tích đánh giá tình hình hoạt động, để nắm bắt được những mặt mạnh, mặt tồn tại trong kinh doanh nhằm đề xuất những giải pháp cho thời kỳ kinh doanh tiếp theo có hiệu quả hơn. Để đạt được những yêu cầu trên, tổ chức công tác phân tích thường được tiến hành theo 3 bước sau: Bước 1: Chuẩn bị cho quá trình phân tích Bước 2: Tiến hành phân tích Bước 3: Tổng hợp, đánh giá kết quả phân tích Các bước này có những nội dung, vị trí riêng nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, do đó cần tổ chức tốt từng bước để không ảnh hưởng đến quá trình phân tích chung.