CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh của của doanh nghiệp 1.1 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp a. Khái niệm Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế hiện nay của nước ta quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thị trường, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sự cạnh tranh gay gắt lẫn nhau. Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả kinh doanh là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải kinh doanh có hiệu quả.
Hiệu quả kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp càng có cơ hội mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh, thu về lợi nhuận lớn. Hiệu quả kinh doanh được xem như là một thước đo quan trọng tới sự phát triển và tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kì. Từ trước đến nay các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất tức là giá trị sử dụng của nó (hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận thu được sau quá trình sản xuất kinh doanh).
Khái niệm này lẫn lộn giữa hiệu quả và mục tiêu kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế phản ánh nhịp độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này chỉ là phiến diện, nó chỉ đúng trên mức độ biến động theo thời gian. Hiệu quả kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả.
Tuy nhiên cách hiểu này là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm về hiệu quả kinh tế. Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith lại cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" và nhà kinh tế học người Pháp Ogiephri cũng quan niệm như vậy. Theo quan điểm trên, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả.
Theo Hà Văn Sự (2015) trong giáo trình kinh tế thương mại đại cương, Đại học Thương mại cho rằng: Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của 7 Luan van hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả kinh tế của thương mại, tùy theo mục tiêu xác định có thể bao gồm lưu chuyển hàng hóa bán lẻ/vốn lưu thông (vòng quay), kim ngạch xuất khẩu/chi phí xuất khẩu, giá trị gia tăng/vốn đầu tư trong thương mại (mức đóng góp GDP trên vốn), kim ngạch xuất nhập khẩu/thu nhập quốc dân (“độ mở” nền kinh tế), thu nhập quốc dân sản xuất/thu nhập quốc dân sử dụng … Trên tầm doanh nghiệp, các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả kinh doanh được xác định dựa và các kết quả như mức lưu chuyển, giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ, lợi nhuận so với các chi phí về vốn cố định, vốn lưu động và vốn sức lao động. Theo Phạm Công Đoàn, Nguyễn Cảnh Lịch (2012) trong Kinh tế doanh nghiệp thương mại thì: “Hiệu quả là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. “Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra”.
Đây là quan điểm của tác giả Manfred –Kuhn và cũng được nhiều nhà kinh tế, nhà quản trị doanh nghiệp áp dụng. Quan niệm này gắn kết quả với chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí … Kết quả kinh doanh được xem là một đại lượng vật chất được tạo ra trong quá trình hoạt động kinh doanh. Do đó có kết quả chưa chắc đã có hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh đầu vào và đầu ra trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Trên góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợi nhuận. Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp. Đây là quan niệm khá phổ biến được rất nhiều người thừa nhận. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn gắn chặt với hiệu quả kinh tế của toàn xã hội, chính vì thế khi xem xét hiệu quả kinh doanh cần xem xét cả về mặt định tính lẫn định lượng.
Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế là những nỗ lực, phấn đấu của doanh nghiệp, phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp đồng thời gắn với việc đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu của doanh nghiệp và toàn xã hội. Về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh biểu thị sự tương quan giữa kết quả thu được với chi phí doanh nghiệp bỏ ra hay còn gọi là yếu tố nguồn lực đầu vào. Từ các khái niệm về hiệu quả kinh doanh trên ta có thể đưa ra một số khái niệm ngắn gọn như sau: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh 8 Luan van trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra. Phân loại hiệu quả kinh doanh Tuỳ theo từng mục đích, đặc trưng khác nhau mà có những cách phân loại hiệu quả kinh doanh khác nhau.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội: + Hiệu quả kinh tế là kết quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh sự tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được với chi phí đã bỏ ra, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực: nhân lực, tư liệu, vốn… + Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng yếu tố nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định như đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao chất lượng đời sống cho người lao động. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ hữu cơ với nhau, vì vậy khi xem xét, đánh giá hiệu quả kinh doanh cần đặt cả hau mặt này một cách tương quan, xem xét đồng thời. Hiệu quả kinh tế là cơ sở, nền tảng của hiệu quả xã hội, còn hiệu quả xã hội lại tồn tại phụ thuộc vào kết quả và chi phí trong quá trình hoạt động kinh tế. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh: + Hiệu quả tuyệt đối: được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng nguồn lực (hoặc chi phí nguồn lực) bỏ ra.
+ Hiệu quả so sánh: được thực hiện bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau nhằm mục đích so sánh mức độ hiệu quả của phương án, từ đó cho phép lựa chọn cách làm có hiệu quả cao nhất. Giữa hai hiệu quả này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, song lại mang tính độc lập tương đối. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận: + Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: Là phạm trù kinh tế phản ánh sự phát triền kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình sản xuất nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh. + Hiệu quả kinh doanh bộ phận: thể hiện trình độ sử dụng các nguồn lực vốn, lao động … theo mục đích đã xác định.
Tức là thông qua hiệu quả bộ phận, ta có thể xác định được đã sử dụng nguồn nhân sự, nguồn vốn … như thế nào trong quá trình sản xuất. Phân loại hiệu quả tổng hợp và bộ phận có tác dụng to lớn trong thống kê, hạch toán hiệu quả kinh doanh và từ đó đề ra các phương pháp cụ thể nâng cao hiệu quả kinh doanh 9 Luan van của doanh nghiệp.2 Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tác giả Manfred Kuhn cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, theo ông: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh = Kết quả kinh doanh đạt được / Chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh cũng có thể được hiểu: - Hiệu quả tuyệt đối được xác định: Hiệu quả kinh doanh = Kết quả thu được – Yếu tố nguồn lực đầu vào Hiệu quả tuyệt đối cho biết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả với giá trị bằng bao nhiêu.
+ Nếu hiệu quả kinh doanh > 0, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả + Nếu hiệu quả kinh doanh ≤ 0, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không hiệu quả, thậm chí là thua lỗ. - Hiệu quả tương đối được xác định: 𝐾ế𝑡 𝑞𝑢ả 𝑡ℎ𝑢 đượ𝑐 Hiệu quả kinh doanh = 𝑌ế𝑢 𝑡ố 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑙ự𝑐 đầ𝑢 𝑣à𝑜 Chỉ tiêu trên cho ta thấy mối quan hệ tương quan giữa nguồn lực bỏ ra và kết quả đạt được: + Nếu hiệu quả kinh doanh < 1 cho thấy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả + Nếu hiệu quả kinh doanh ≥ 1 cho thấy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không hiệu quả, thậm chí là thua lỗ. Khóa luận đã đề cập và phân tích khái niệm hiệu quá kinh doanh của doanh nghiệp theo nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Theo đó, một cách khái quát nhất thì HQKD (hiệu quả kinh doanh) là một thuật ngữ phản ánh trình độ kết hợp sử dụng các nguồn lực để đạt được một mục tiêu xác định, hay chi tiết hơn, HQKD phản ánh trình độ quản trị, khai thác, sử dụng các tài sản và yếu tố đầu vào khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN hướng tới một mục tiêu nhất định.