CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Một số vấn đề chung về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa 1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiện nay, kinh doanh trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mọi doanh nghiệp đều thực hiện tự hạch toán kinh tế, tự phân bổ lợi nhuận, chi phí và kết quả kinh doanh. Vì vậy các doanh nghiệp đều quan tâm đến hiệu quả kinh doanh của mình. Từ trước đến nay đã có rất nhiều các quan niệm khác nhau về thuật ngữ “HQKD”. Và để hiểu rõ về khái niệm và bản chất của HQKD, chúng ta có thể đi sâu xem xét một số quan niệm trong số đó.
Quan niệm thứ nhất cho rằng: “HQKD là kết quả thu được trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá” [19, tr. Như vậy, theo quan niệm này, HQKD đã được đồng nhất với kết quả kinh doanh. Có nghĩa là, chỉ cần các hoạt động kinh doanh khác nhau mang lại kết quả như nhau đã có thể kết luận rằng HQKD của các hoạt động đó là bằng nhau, mà không cần xem xét đến các mức chi phí, thời gian bỏ ra để đạt được kết quả đó có thể là khác nhau. Rõ ràng, quan niệm này đã thể hiện sự không hợp lý về HQKD.
Quan niệm thứ hai cho rằng: “HQKD là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí” [19, tr. Quan niệm này đã phản ánh được mối quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Việc xem xét mối quan hệ đó cho biết một đơn vị chi phí tăng thêm tạo ra được bao nhiêu đơn vị kết quả. Thông qua đó, có thể đánh giá được trình độ sử dụng các yếu tố tăng thêm vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra quyết định có nên tăng thêm chi phí cho hoạt động đó hay không.
Tuy 7 nhiên, hạn chế của quan niệm này đó là chỉ xét tới phần kết quả và chi phí tăng thêm mà không đề cập đến kết quả và chi phí ban đầu. Do vậy, quan niệm này chỉ đánh giá được hiệu quả của hoạt động bổ sung mà không đánh giá được toàn bộ hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Quan niệm thứ ba cho rằng: “HQKD là một đại lượng so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó” [19, tr. Theo quan niệm này thì HQKD chính là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quan niệm này đã phản ánh được mối quan hệ bản chất của HQKD, đề cập đến cả kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Tuy nhiên, quan niệm này chưa thể hiện được tương quan về lượng và về chất giữa kết quả và chi phí. Vì khi các hoạt động kinh doanh khác nhau cùng tạo ra một mức lợi nhuận, song thời gian để đạt được mức lợi nhuận đó giữa các hoạt động kinh doanh là khác nhau, quy mô các hoạt động kinh doanh là khác nhau, thì chưa thể kết luận được HQKD giữa các hoạt động đó là như nhau được. Đây chính là hạn chế của quan niệm nay.
Quan niệm thứ tư cho rằng: “HQKD là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, đồng thời phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất” [19, tr. Quan niệm này đã thể hiện được tương quan về lượng và về chất giữa kết quả và chi phí, thể hiện được sự vận động của kết quả và sự vận động của chi phí. Qua đó có thể đánh giá được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp. Như vậy, “HQKD của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất” [19, tr.
Từ khái niệm trên ta dễ dàng thấy được bản chất của HQKD là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp. Do đó, việc nâng cao HQKD sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng hợp lý các 8 nguồn lực hơn, tiết kiệm được thời gian, chi phí hơn nhưng lại mang đến kết quả cao hơn, nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Về cơ bản hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp cũng giống hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung nhưng khác ở chỗ nghành kinh doanh ở đây là nghành thương mại nhập khẩu hàng hoá. Do đó “Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh nói riêng, trình độ tổ chức và quản lý nhập khẩu nói chung để đáp ứng được nhu cầu xã hội và đạt được các mục tiêu nhập khẩu của doanh nghiệp”. Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu phản ánh kết quả kinh doanh nhập khẩu đạt được với các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Quan niệm hiệu quả nhập khẩu không chỉ được thể hiện bằng các chỉ tiêu doanh lợi mà mỗi doanh nghiệp đạt được trong mỗi kỳ kinh doanh, hoạt động nhập khẩu còn đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cho nền kinh tế bằng cách góp phần vào việc sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tăng doanh thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân.Như vậy, hiệu quả kinh doanh cho ta thấy rõ khả năng và trình độ quản lý của doanh nghiệp đối với lĩnh vực kinh doanh cụ thể.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp 1.1 Phân loại hiệu quả kinh doanh nói chung Trong thực tiễn có nhiều loại hiệu quả kinh doanh khác nhau. Để tiện cho việc quản lý và nâng cao hiệu quả kinh doanh người ta thường phân biệt hiệu quả theo các tiêu thức khác nhau: - Căn cứ vào phạm vi tính toán hiệu quả có HQKD tổng hợp và HQKD bộ phận [19]. HQKD tổng hợp là hiệu quả kinh doanh tính chung cho toàn doanh nghiệp, cho các bộ phận trong doanh nghiệp; HQKD bộ phận là hiệu quả kinh doanh tính riêng cho từng bộ phận của doanh nghiệp hoặc từng yếu tố sản xuất. 9 - Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả có HQKD tuyệt đối và HQKD tương đối [19].
+ HQKD tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả của từng phương án kinh doanh, từng thời kỳ kinh doanh, từng doanh nghiệp bằng cách lấy chênh lệch giữa kết quả kinh doanh và chi phí tạo ra kết quả đó. Như vậy, HQKD tuyệt đối ở đây chính là lợi nhuận thu được từ mỗi phương án kinh doanh, từng thời kỳ kinh doanh nhất định của doanh nghiệp. + HQKD tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp - Căn cứ vào thời gian mang lại hiệu quả có hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài [19]. HQKD trước mắt là hiệu quả được xem xét trong một khoảng thời gian ngắn, là hiệu quả mang lại ngay khi chúng ta thực hiện hoạt động kinh doanh.
HQKD lâu dài là hiệu quả được xem xét, đánh giá trong một khoảng thời gian dài, là hiệu quả mang lại sau khi thực hiện hoạt động kinh doanh một khoảng thời gian nhất định. - Căn cứ vào đối tượng xem xét hiệu quả có HQKD trực tiếp và HQKD gián tiếp [19]. HQKD trực tiếp là hiệu quả do chính việc thực hiện hoạt động kinh doanh đó mang lại. HQKD gián tiếp là hiệu quả do một hoạt động kinh doanh khác mang lại.
- Căn cứ vào khía cạnh khác nhau của hiệu quả có hiệu quả tài chính và hiệu quả chính trị - xã hội [19]. Hiệu quả tài chính là HQKD của doanh nghiệp về khía cạnh kinh tế tài chính. Hiệu quả chính trị - xã hội là HQKD của doanh nghiệp về khía cạnh chính trị - xã hội - môi trường. Giữa hai loại hiệu quả này cũng có mối liên hệ biện chứng với nhau, tuy nhiên trong thực tế hai loại hiệu quả này thường mâu thuẫn với nhau.
Việc đạt được hiệu quả tài chính thường làm cho hiệu quả chính trị xã hội không đạt được và ngược lại. Nếu xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, thì hiệu quả tài chính có thể được coi là hiệu quả trước mắt vì hiệu quả tài chính chỉ mang lại lợi ích trước hết cho doanh nghiệp kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định, còn hiệu quả 10 chính trị xã hội như là hiệu quả lâu dài vì hiệu quả chính trị xã hội mang lại lợi ích cho toàn bộ các doanh nghiệp, người lao động, người dân. trong thời gian dài. - Căn cứ vào phạm vi của hoạt động thương mại có hiệu quả hoạt động kinh doanh nội thương và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại thương [19].
Hiệu quả hoạt động kinh doanh nội thương là hiệu quả do hoạt động kinh doanh trong nước mang lại. Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại thương là hiệu quả do hoạt động kinh doanh quốc tế mang lại. Hoạt động ngoại thương lại được cấu thành bởi hai yếu tố là hoạt động xuất khẩu và hoạt động nhập khẩu. Do đó, HQKD ngoại thương là hiệu quả tổng hợp của hai hiệu quả bộ phận là hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu và hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Hoạt động kinh xuất khẩu là hiệu quả do hoạt động xuất khẩu mang lại. Còn HQKD nhập khẩu là hiệu quả do hoạt động nhập khẩu mang lại. Qua cách phân loại hiệu quả kinh doanh nói chung như ở trên tác giả sẽ đưa ra các cách phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp - Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp trong hoạt động nhập khẩu Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhập khẩu chỉ có nguồn lực nhất định do đó khi tiến hành kinh doanh thì họ chỉ đưa ra một chi phí cá biệt nhất định. Thị trường là nơi quyết định đến giá cả của sản phẩm.
Do vậy mà khi kinh doanh nhập khẩu doanh nghiệp phải tính toán sao cho chi phí phải bỏ ra là thấp hơn so với doanh thu từ việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.