CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH LỮ HÀNH 1. Cơ sở lý luận về doanh nghiệp kinh doanh lữ hành 1. Khái niệm doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Theo nghĩa rộng: Kinh doanh lữ hành là việc đầu tư để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công việc trong quá trình chuyển giao sản phẩm thực hiện giá trị sử dụng, hoặc làm gia tăng giá trị của nó để chuyển giao sang lĩnh vực tiêu dùng du lịch với mục đích lợi nhuận. Kinh doanh lữ hành được thực hiện bởi các doanh nghiệp Theo nghĩa hẹp: Quy định tại Khoản 9 Điều 3 Luật Du lịch (2018), kinh doanh dịch vụ lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch.
Theo định nghĩa của Tổng cục du lịch Việt Nam: Kinh doanh lữ hành là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán chương trình này trực tiếp hay gián tiếp thông qua trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch. Các doanh nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chức các mạng lưỡi lữ hành. Đặc điểm doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Thứ nhất, hoạt động kinh doanh lữ hành cần số vốn tương đối lớn. Hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành là hoạt động kinh doanh có điều kiện.
Theo đó, doanh nghiệp muốn kinh doanh lữ hành phải tiến hành ký quỹ tại ngân hàng. Mặt khác, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành phải có sự liên kết với các nhà cung ứng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu cho khách hàng. Do đó, khi thực hiện các chương trình du lịch cần phải đặt trước một khoản tiền cho nhà cung cấp dịch vụ. Thứ hai, hoạt động kinh doanh lữ hành mang tính thời vụ.
Kinh doanh lữ hành mang tính thời vụ rõ nét. Hoạt động du lịch ở một vài địa điểm không kéo dài thường xuyên, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, cảnh sắc, nhu cầu của khách du lịch. Thứ ba, hoạt động kinh doanh lữ hành phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Khác với các ngành nghề kinh doanh khác, hoạt động kinh doanh lữ hành phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, điển hình như: tài nguyên du lịch, cảnh sắc thiên nhiên, thời gian,… chính những yếu tố này quyết định đến sự đa dạng, phong phú của chuyến đi.
10 Thứ tư, hoạt động kinh doanh lữ hành cần lực lượng lao động trực tiếp. Bản chất của lữ hành là cung ứng dịch vụ, sản phẩm lữ hành mang tính chất phục vụ trực tiếp nhiều. Do đó, đội ngũ lao động đòi hỏi sự khéo léo, lịch sự mà không một loại máy móc nào thay thế được. Thời gian lao động không cố định, phụ thuộc nhiều vào thời gian khách tham gia chương trình.
Phân loại doanh nghiệp kinh doanh lữ hành 1. Căn cứ vào tính chất của hoạt động để tạo ra sản phẩm (1) Kinh doanh đại lí lữ hành: Hoạt động chủ yếu là làm dịch vụ trung gian tiêu thụ và bán sản phẩm một cách độc lập, riêng lẻ cho các nhà sản xuất du lịch để hưởng hoa hồng theo mức phần trăm giá bán. Loại hình kinh doanh du lịch này thực hiện nhiệm vụ như là: "Chuyên gia cho thuê" không phải chịu rủi ro. (2) Kinh doanh du lịch lữ hành: Là hoạt động bán buôn, hoạt động "sản xuất" làm gia tăng giá trị các sản phẩm đơn lẻ của nhà cung cấp để bán cho khách.
Với hoạt động kinh doanh này, chủ thể hoạt động phải gánh chịu và san sẻ rủi ro trong quan hệ với các nhà cung cấp. (3) Kinh doanh lữ hành tổng hợp: Bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh du lịch đóng vai trò vừa sản xuất trực tiếp từng loại dịch vụ, vừa liên kết các dịch vụ thành sản phẩm mang tính nguyên chiếc, vừa thực hiện bán buôn, bán lẻ vừa thực hiện chương trình du lịch đã bán. Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành tổng hợp được gọi là các công ty du lịch. Căn cứ vào phương thức và phạm vi hoạt động (1) Kinh doanh lữ hành gửi khách.
(2) Kinh doanh lữ hành nhận khách. (3) Kinh doanh lữ hành kết hợp. Căn cứ vào qui định của Luật Du lịch Việt Nam có hiệu lực từ ngày 14 tháng 6 năm 2005: (1) Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam. (2) Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài.
(3) Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. (4) Kinh doanh lữ hành nội địa. Vai trò của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành 1. Vai trò đối với cầu du lịch Tiết kiệm được thời gian lẫn chi phí cho việc tìm kiếm thông tin, tổ chức sắp xếp, bố trí các tuyến du lịch cho khách du lịch khi mua chương trình du lich.
Khách du lịch sẽ thừa hưởng được những kinh nghiệm và kiến thức từ chuyên gia tổ chức du lịch của các công ty lữ hành, đem lại những chuyến du lịch thú vị và bổ ích. Hưởng được một mức giá hấp dẫn cho khách du lịch khi mua các chương trình du lịch trọn gói. Du khách chỉ phải trả một khoản chi phí thấp hơn nhiều so với chi phí mà họ bỏ ra để tự lo liệu. Doanh nghiệp lữ hành giúp du khách phần nào cảm nhận được sản phẩm trước khi đi đến quyết định mua và thực sự tiêu dùng nó.
Khách du lịch sẽ phần nào cảm thấy yên tâm và hài lòng khi đưa ra quyết định. Vai trò đối với cung du lịch hoặc các đơn vị cung ứng du lịch Cung cấp những nguồn khách lớn ổn định và có kế hoạch. Các nhà cung cấp thu được nhiều lợi ích từ các hoạt động quảng cáo, khuếch trương cũng như thăm dò nhu cầu du khách của các hãng lữ hành. Các nhà cung cấp đã chuyển bớt một phần rủi ro có thể xảy ra với các công ty lữ hành thông qua các bản hợp đồng đã được kí kết.
Chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Thực hiện hoạt động trung gian bán sản phẩm từ nhà cung cấp, rút ngắn khoảng cách cung cầu. Tổ chức các chương trình du lịch trọn gói: Tập hợp các sản phẩm riêng lẻ của nhà cung cấp thành một sản phẩm tổng hợp để đáp ứng như cầu của khách du lịch. Các công ty lữ hành lớn với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phong phú, đảm bảo phục vụ tất cả các nhu cầu của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng. Những tập đoàn đa quốc gia sẽ góp phần quyết định xu hướng tiêu dùng du lịch trên thị trường hiện tại và tương lai.
Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình từ đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm nhất là hiệu quả hoạt động kinh doanh. Hiệu quả là một phạm trù phản ánh mức độ đạt được kết quả tương ứng với trình độ phát triển năng suất trong quá trình thực hiện một hoạt động.
Kết quả của hoạt động thường được biểu hiện bằng giá trị sản lượng, doanh thu hoặc lợi nhuận. Theo quan điểm kinh tế vĩ mô, hiệu quả là việc đạt được kết quả mong muốn cao nhất với chi phí thấp nhất có thể. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp (nhân lực và vật lực) để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với chi phí thấp nhất. Đây là một vấn đề phức tạp có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động) nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Hiệu quả kinh doanh lữ hành thể hiện khả năng, mức độ sử dụng các yếu tố đầu vào và tài nguyên du lịch, nhằm tạo ra và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm dịch vụ cao trong một khoảng thời gian nhất định để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, thu được lơi nhuận tối đa, với chi phí nhỏ nhất và có ảnh hưởng tích cực với xã hội và môi trường. Trong đó, bao gồm các yếu tố đầu vào là cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn sản xuất kinh doanh, tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân tạo và chi phí cho đối tượng lao động cũng như tư liệu lao động thuần túy. Bản chất của hoạt động kinh doanh Bản chất của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các yếu tố đầu vào và lợi nhuận thu được qua quá trình sản xuất, kinh doanh. Nó được phản ánh thông qua tình hình sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp nhằm khai thác tối đa lợi nhuận.
Có thể hiểu hiệu quả hoạt động kinh doanh là đạt được kết quả kinh tế tối đa với mức chi phí tối thiểu. Để đạt được các mục tiêu kinh doanh của công ty doanh nghiệp buộc phải quan tâm đến thông tin nội bộ, nâng cao năng lực và hiệu quả, tiết kiệm mọi chi phí. 13 Như vậy, bản chất của hiệu quả kinh doanh là: Thứ nhất, phản ánh chất lượng các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ hai, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Thứ ba, hiệu quả kinh doanh phức tạp, khó đánh giá vì khó xác định kết quả và sự lãng phí nguồn lực. Sự cần thiết của nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một trong những công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào, mà còn cho phép nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng doanh thu, giảm chi phí. Nâng cao hiệu quả kinh doanh chứng tỏ doanh nghiệp đã tìm cho mình một giải pháp hữu hiệu, đó là đầu tư đúng đắn mà không hề gây ra sự lãng phí nào về vốn.