CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NÓI CHUNG VÀ DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH 1. Khái quát chung về Doanh nghiệp 1. Khái niệm Doanh nghiệp - Theo luật doanh nghiệp số 68/2014/QĐ13 Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. - Theo quan điểm phát triển Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.4] - Theo quan điểm hệ thống Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự. - Định nghĩa chung Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi 7 ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. Phân loại Doanh nghiệp 1.
Theo dấu hiệu sở hữu - Doanh nghiệp Nhà nước: là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, từ đó Nhà nước giữ quyền chi phối nhất định đối với hoạt động của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp tập thể: được hình thành do các thành viên cùng góp tài sản, công sức, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. - Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội: là doanh nghiệp được thành lập từ nguồn kinh phí của các tổ chức chính trị xã hội.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: là những doanh nghiệp mà nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành từ toàn bộ hay một phần vốn của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo mục đích hoạt động - Doanh nghiệp công ích: là doanh nghiệp hoạt động ko vì mục tiêu lợi nhuận. - Các doanh nghiệp khác như: mục tiêu hoạt động là thu được lợi nhuận cao nhất. Theo quy mô Doanh nghiệp ( tổng vốn, số lượng lao động, doanh thu, lợi nhuận.) - Doanh nghiệp quy mô lớn.
- Doanh nghiệp quy mô vừa. 8 - Doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Theo tính chất của chế độ trách nhiệm về mặt tài sản của chủ thể kinh doanh - Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn: là loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu đầu tư vốn chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã đầu tư thành lập doanh nghiệp (vốn điều lệ). - Doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn: là loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu đầu tư vốn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của doanh nghiệp.
Mục tiêu, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Doanh nghiệp 1. Mục tiêu của Doanh nghiệp Mục tiêu của doanh nghiệp là toàn bộ kết quả cuối cùng hay trạng thái mà doanh nghiệp muốn đạt tới trong một khoảng thời gian nhất định. Mỗi một Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đều có những mục tiêu chung và mục tiêu riêng của của mình. Tùy theo từng thời điểm mà mục tiêu của doanh nghiệp hướng tới sẽ khác nhau.
Trong thời gian khởi đầu sự nghiệp sản xuất, kinh doanh mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận để chi trả nhân công, vật liệu và thu hồi vốn đầu tư. Khi đã phát triển hơn và có chỗ đứng vững chắc, khẳng định được tên tuổi của doanh nghiệp trên thương trường thì ngoài mục tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp sẽ hướng mục tiêu của doanh nghiệp tới tầm cao hơn, với những mục tiêu có ý nghĩa về chính trị, xã hội, xây dựng môi trường trong sạch. Đặc biệt, khi nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm mà nhu cầu sử dụng tài nguyên phục vụ cho đời sống con người ngày càng cao thì để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần phải đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ 9 quản lý, sản xuất mới nhằm mục tiêu chỉ sử dụng ít tài nguyên mà sản phẩm lại có chất lượng tốt hơn, thời gian sử dụng bền hơn. Vai trò của Doanh nghiệp Trong nền kinh tế Quốc dân, doanh nghiệp là một bộ phận chủ yếu tạo ra Tổng sản phẩm quốc nội (GDP: Gross Domestic Product).
Thông qua đường lối của Đảng, chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước hoạt động của doanh nghiệp có tính quyết định trong việc giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao và tác động tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như biến đổi các vấn đề đời sống xã hội. Hoạt động của doanh nghiệp góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định phục hồi, tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo cho người lao động. Chức năng của Doanh nghiệp Doanh nghiệp trong nền kinh tế có những chức năng cơ bản sau: - Chức năng sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ: thông qua các yếu tố đầu vào như nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư nguyên, nhiên vật liệu, nhân công, nhà xưởng, máy móc, công nghệ…các doanh nghiệp thực hiện quá trình sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho thị trường. - Chức năng lưu chuyển, phân phối hàng hóa: sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sau khi được hoàn thiện tại cơ sở sản xuất cần phải được vận chuyển, phân phối đến nơi tiêu dùng.
Doanh nghiệp làm nhiệm vụ lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ căn cứ theo nhu cầu của khách hàng về mục đích sử dụng, chủng loại, số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm giao nhận để chuyển giao sản phẩm 10 hàng hóa, dịch vụ với chi phí vận chuyển, giá cả hợp lý mà khách hàng có thể chấp nhận được. - Chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông: trong quá trình thực hiện việc lưu thông sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từ lĩnh vực sản xuất, cung ứng đến lĩnh vực tiêu dùng các doanh nghiệp cần phải thực hiện việc phân loại, chọn lọc, đóng gói, vận chuyển, dự trữ, bảo quản sản phẩm, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, sửa chữa, lắp ráp, bảo hành sản phẩm…Đây chính là chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong quá trình lưu thông. Chức năng này nhằm hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ ở dạng tốt nhất để sản phẩm, dịch vụ thích hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Mặt khác, trong quá trình thực hiện lưu thông hàng hóa, các doanh nghiệp còn phải thực hiện việc tổ chức sản xuất, đầu tư, khai thác tạo nguồn hàng để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ thay thế với giá cả phải chăng để chủ động trong nguồn hàng và thích hợp với nhu cầu của khách hàng.
- Chức năng dự trữ hàng hóa và điều hòa cung- cầu: trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ doanh nghiệp mua bán hàng hóa để cung ứng đầy đủ, kịp thời đồng bộ, đúng chất lượng, số lượng, thuận tiện cho khách hàng. Doanh nghiệp mua hàng hóa từ những nơi có nhiều nguồn hàng, giá rẻ để lưu chuyển tới nơi khan hiếm hơn, có nhu cầu cao hơn để phục vụ hoặc được lưu trữ tại các kho, trạm, cửa hàng, quầy hàng, siêu thị, đại lý… Điều này góp phần làm cho cung cầu hàng hóa trên thị trường được điều hòa ổn định. Nhiệm vụ của Doanh nghiệp Các doanh nghiệp kinh doanh trong mọi lĩnh vực đều có chung nhiệm vụ như sau: - Bảo toàn và tăng trưởng vốn, mở rộng kinh doanh, sản xuất. - Hoạt động sản xuất, kinh doanh đáp ứng nhu cầu của thị trường.
11 - Thực hiện đầy đủ các chế độ hậu mãi đối với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ lợi ích với các chủ thể kinh doanh khác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. - Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của nhà nước. Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với nhà nước, với cộng đồng. - Tiết kiệm tài nguyên, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường, bảo đảm công việc và nâng cao đời sống cho người lao động, bảo đảm an ninh, an toàn và trật tự xã hội.
- Ngoài những nhiệm vụ chung trên, các doanh nghiệp hoạt động công ích còn phải thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận. Lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh - Theo P. Nordhaus thì : "hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó". Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao. Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa.
- Khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm: 12 Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, nó phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh, với chi phí bỏ ra ít nhất mà đạt hiệu quả cao nhất. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh.