Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ 1. Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 1. Khái niệm về kiểm sát kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 1. Khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Để có thể đưa ra một khái niệm khoa học, chính xác về “kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” cần thiết phải làm sáng tỏ các thuật ngữ có liên quan đó là: “tố giác về tội phạm”.
“tin báo về tội phạm”. “kiến nghị khởi tố”. Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: 1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm [22]. Quy chế công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Ban hành kèm theo Quyết định số 422/2014/QĐ- VKSTC ngày 17/10/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) cũng 8 giải thích các khái niệm Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết; Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết; Kiến nghị khởi tố là những sự việc có dấu hiệu tội phạm do các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện và có văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét khởi tố vụ án hình sự [26]. Theo chúng tôi tố giác về tội phạm được hiểu là những thông tin, hành vi có dấu hiệu tội phạm được cá nhân phát hiện và tố cáo với cơ quan có thẩm quyền.
Tin báo về tội phạm được hiểu là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền. Kiến nghị khởi tố được hiểu là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết. Chúng tôi đồng tình với khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, Điều 144 BLTTHS năm 2015. Theo đó: - Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
- Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng. - Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm [22]. 9 Từ những phân tích trên có thể hiểu: tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là những thông tin có dấu hiệu tội phạm được quy định trong BLHS do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp bằng các hình thức khác nhau hoặc thông tin về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng để các cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo quy định của BLTTHS. Về mặt tố tụng hình sự thì khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có ý nghĩa quan trọng đối với CQĐT, VKSND, Tòa án nhân dân trong công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là những thông tin về tội phạm ban đầu, là căn cứ để CQĐT tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh tính có căn cứ và hợp pháp của tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; từ đó, để tiến hành các hoạt động tố tụng đúng hướng, ban hành các quyết định tố tụng cần thiết trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Khái niệm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Hiện nay, VKSND là hệ thống cơ quan Nhà nước được Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước quy định trao cho quyền hạn được thực hiện việc kiểm sát hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là chức năng đặc thù của VKSND cùng với chức năng thực hành quyền công tố (THQCT), tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để VKSND thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Kiểm sát là một dạng giám sát đặc thù với quyền năng kiểm sát và phương thức kiểm sát riêng biệt.
Điều 20 BLTTHS năm 2015 quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, 10 truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội” [22]. Pháp luật thực định chỉ quy định một loại chủ thể thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, đó là Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, tham gia “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong TTHS không chỉ có Viện kiểm sát mà còn có các chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cá nhân công dân và toàn thể xã hội nói chung. Quyền của các chủ thể khác được “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong lĩnh vực Tố tụng hình sự xuất phát từ những chế định quan trọng của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và địa vị pháp lý cơ bản của công dân.
Về bản chất, các hoạt động của các chủ thể này như theo dõi, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng báo cáo tình hình hoạt động, yêu cầu trả lời lý do ra các quyết định, yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm… cũng ảnh hưởng đến việc “phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật” và “loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân” trong Tố tụng hình sự [7]. Không thể coi đây là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng hình sự mà chỉ là các hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là một số quyền mà pháp luật cho phép chỉ có Viện kiểm sát nhân dân mới có khi thực hiện hoạt động kiểm sát, các quyền này cũng đồng thời là nghĩa vụ của Viện kiểm sát nhân dân, tạo nên sự khác biệt về phương thức thực hiện hoạt động kiểm sát mà các chủ thể khác không có. Quyền của VKSND khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng hình sự được thể hiện cụ thể qua các quyền của Viện trưởng, Phó viện trưởng và Kiểm sát viên.
Các quyền và nghĩa vụ của VKSND đặt trong mối quan hệ tổng thể tạo ra một phương thức kiểm sát đặc trưng, cho phép phân biệt dễ dàng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát với hoạt động giám sát (bao 11 gồm cả ủy ban Tư pháp Quốc hội). Phương thức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS thể hiện ở việc kiểm tra, giám sát một cách liên tục - cụ thể - trực tiếp đối với các hoạt động tố tụng. Tính liên tục thể hiện ở chỗ: trong toàn bộ quá trình giải quyết một vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền và nghĩa vụ có mặt tại tất cả các giai đoạn từ khởi tố - điều tra- truy tố - xét xử và thi hành án. Từ khi một người dân mới là đối tượng bị tình nghi cho đến khi người đó được xóa án tích.
Tính cụ thể của phương thức kiểm sát chính là việc Viện kiểm sát nhân dân có quyền giám sát chi tiết, tỉ mỉ các hoạt động cụ thể: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai, hỏi cung bị can, thực nghiệm điều tra, đối chất. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát một cách trực tiếp đối với các hoạt động tố tụng thể hiện ở việc có mặt, theo sát, nhắc đôn đốc kịp thời khi các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động giải quyết vụ án. Tính trực tiếp, cụ thể, liên tục của phương thức kiểm sát không nên hiểu là Viện kiểm sát nhân dân phải có mặt, theo dõi và giám sát mọi hoạt động, mọi lúc, mọi nơi. Tùy vào điều kiện thực tế về nhân sự, số lượng vụ án, tính chất từng loại vụ án và quy định của pháp luật tố tụng hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân sẽ quyết định khi nào phải kiểm sát trực tiếp diễn biến của một hoạt động tố tụng và khi nào chỉ cần kiểm sát thông qua kết quả của hoạt động tố tụng.