Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống thư viện thuộc các trường đại học văn hóa nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò huyết mạch trong việc cung cấp tri thức đặc thù, phục vụ trực tiếp cho hơn 6.182 sinh viên cùng 548 cán bộ giảng viên thuộc 4 cơ sở đào tạo trọng điểm. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học và chuyển đổi phương pháp đào tạo lấy người học làm trung tâm, công tác thông tin tư liệu đòi hỏi sự chuyển dịch mạnh mẽ từ lưu trữ truyền thống sang tổ chức khai thác hiện đại.

Thực trạng khảo sát cho thấy nguồn lực thông tin văn hóa nghệ thuật vẫn còn phân tán, thiếu tính hệ thống đồng bộ. Các tài liệu chuyên ngành có giá thành rất cao, nhiều tài liệu quý hiếm thuộc dạng độc bản nhưng chưa được khai thác hết tiềm năng. Không gian phục vụ của nhiều thư viện còn khá khiêm tốn, đơn cử như thư viện Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có diện tích phục vụ 50m2 với 20 chỗ ngồi, hay thư viện Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạt 131m2 với 40 chỗ ngồi. Hoạt động tìm kiếm tài liệu tại một số đơn vị vẫn mang tính bán thủ công hoặc thủ công hoàn toàn, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu tra cứu chuyên sâu của người dùng tin.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là khảo sát toàn diện thực trạng tổ chức, quản lý và khai thác nguồn tin tại 4 trường đại học trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Trường Đại học Văn hóa, Trường Đại học Mỹ thuật, Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi dữ liệu được thu thập và tổng hợp chi tiết tính đến tháng 4 năm 2010.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc tối ưu hóa hiệu quả khai thác kho tài nguyên hơn 52.699 bản sách in, 8.832 tài liệu đa phương tiện và 3.192 công trình nội sinh. Đề tài góp phần chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ thư viện đại học theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg, nâng cao chỉ số luân chuyển tài liệu và cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác quản trị đại học chuyên ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết nguồn lực thông tin và lý thuyết hành vi tìm kiếm thông tin của người dùng tin trong môi trường học thuật. Theo các chuẩn mực của UNESCO và khoa học thư viện hiện đại, nguồn lực thông tin được xem là tổ hợp dữ liệu phản ánh kết quả nhận thức, nghiên cứu khoa học và thực tiễn, được cố định trên các vật mang tin truyền thống lẫn điện tử.

Mô hình nghiên cứu tập trung vào 4 thuộc tính cơ bản của nguồn lực thông tin: tính vật lý, tính cấu trúc theo chuẩn mô tả thư mục, tính truy nhập đa phương thức và tính chia sẻ liên thông mạng lưới. Bên cạnh đó, luận văn làm rõ 5 khái niệm cốt lõi:

  • Nguồn lực thông tin văn hóa nghệ thuật: Bao gồm hệ thống thông tin lý luận, tác phẩm nghệ thuật, tài liệu tra cứu chuyên ngành và tư liệu biểu diễn đa phương tiện.
  • Khai thác nguồn lực thông tin: Quá trình người dùng tin phát hiện, tiếp cận và sử dụng nội dung tri thức tiềm năng phục vụ đào tạo và nghiên cứu.
  • Bộ máy tra cứu thông tin: Hệ thống mục lục truyền thống kết hợp cơ sở dữ liệu điện tử (OPAC) giúp định vị tài liệu nhanh chóng.
  • Nguồn tài liệu nội sinh: Các ấn phẩm, luận văn, luận án, công trình nghiên cứu khoa học phát sinh từ hoạt động của nhà trường.
  • Người dùng tin chuyên ngành nghệ thuật: Nhóm đối tượng có nhu cầu thông tin mang tính chuyên sâu, trực quan, thẩm mỹ và gắn liền với thực hành nghệ thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo (như Thông tư số 56/2003/TT-BVHTT), báo cáo nghiệp vụ thường niên và dữ liệu khảo sát thực chứng tại các trường.

Tác giả kết hợp đồng bộ 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các công trình lý luận và quy chuẩn nghiệp vụ trong và ngoài nước.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu khảo sát tiêu chuẩn thu thập số liệu từ 100% cán bộ quản lý thư viện và chọn mẫu phân tầng người dùng tin đại diện cho 4 nhóm (lãnh đạo quản lý chiếm 20% cán bộ; giảng viên chiếm 60%; chuyên viên hành chính chiếm 20%; sinh viên và học viên sau đại học chiếm trên 80% tổng người dùng tin).
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu: Xử lý các chỉ tiêu định lượng về quy mô kho sách, cơ cấu môn loại DDC, cơ cấu ngôn ngữ và kinh phí bổ sung.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Trực tiếp trao đổi với cán bộ thư viện và bạn đọc chuyên ngành nhằm làm rõ các rào cản khai thác.
  • Phương pháp quan sát thực địa: Đánh giá quy trình phục vụ tại phòng đọc, phòng mượn và không gian tra cứu điện tử.

Việc kết hợp phương pháp định lượng và định tính giúp bảo đảm tính khách quan, phản ánh chính xác bức tranh hoạt động thông tin thư viện từ năm 2007 đến tháng 4 năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa tại 4 cơ sở đào tạo đại học văn hóa nghệ thuật đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật về cơ cấu và phương thức vận hành nguồn tin:

Thứ nhất, cơ cấu nội dung tài liệu có tính chuyên biệt hóa rất cao theo đúng định hướng đào tạo của từng trường. Tại Trường Đại học Mỹ thuật, tài liệu môn loại nghệ thuật chiếm tới 7.431 bản (tương đương 86% tổng vốn tài liệu), trong đó mỹ thuật chiếm 46,3% và hội họa chiếm 7,7%. Tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, tài liệu nghệ thuật âm nhạc đạt 14.529 bản (chiếm 83,57% tổng số), bao gồm các phân ngành lý luận - sáng tác - chỉ huy chiếm 22% và thanh nhạc chiếm 17%. Ngược lại, Trường Đại học Văn hóa tập trung mạnh vào khoa học xã hội với 7.620 bản (chiếm 39,78%), trong khi Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh có 3.451 bản sách văn học nghệ thuật và kịch bản (chiếm 45,83%).

Thứ hai, chỉ số bản sách bình quân trên mỗi sinh viên có sự chênh lệch đáng kể giữa các đơn vị. Trường Đại học Mỹ thuật đạt tỷ lệ cao nhất với 14,36 bản sách/sinh viên (8.634 bản/601 sinh viên); Nhạc viện đạt 12,70 bản sách/sinh viên (17.384 bản/1.368 sinh viên); Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh đạt 11,58 bản sách/sinh viên (7.530 bản/650 sinh viên); trong khi Trường Đại học Văn hóa chỉ đạt 5,37 bản sách/sinh viên (19.151 bản/3.563 sinh viên). Mặc dù mức bình quân chung của khối văn hóa nghệ thuật cao hơn mức trung bình 4,45 bản/người dùng tin khảo sát tại 9 trường đại học lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng vẫn thấp hơn chuẩn 15 bản/sinh viên của các đại học tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á.

Thứ ba, tỷ trọng tài liệu ngoại văn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng do tính chất khan hiếm của giáo trình nghệ thuật tiếng Việt. Tài liệu tiếng Anh tại Trường Đại học Mỹ thuật chiếm tới 34% (2.912 bản), tại Nhạc viện chiếm 24% (4.246 bản) và Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh chiếm 18% (1.352 bản). Đặc biệt, Nhạc viện sở hữu kho tư liệu đa ngôn ngữ phong phú với 17% tiếng Pháp, 14% tiếng Nga và 11% tiếng Hoa.

Thứ tư, nguồn nhân lực thư viện có cơ cấu trẻ và trình độ chuyên môn hóa tích cực. Tổng số 22 cán bộ thư viện tại 4 trường có 18 người trong độ tuổi từ 20 đến 40 (chiếm 82%). Về trình độ nghiệp vụ, 15 cán bộ có trình độ đại học và sau đại học ngành thư viện (chiếm 68,2%), và có tới 14 cán bộ (chiếm 63,6%) đang chủ động tham gia các chương trình đào tạo liên thông hoặc văn bằng hai để nâng cao năng lực công tác.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố nguồn tin cho thấy những nguyên nhân sâu xa xuất phát từ tính chất đặc thù của ngành văn hóa nghệ thuật. Giáo trình, sách chuyên khảo và nhạc phổ quốc tế có giá thành rất cao và nguồn cung trên thị trường nội địa hạn chế. Do đó, các trường phải phụ thuộc nhiều vào nguồn tài trợ và biếu tặng. Điển hình như Trường Đại học Mỹ thuật tiếp nhận 500 cuốn sách biếu tặng năm 2009, Nhạc viện tiếp nhận 451 cuốn năm 2008 từ các tổ chức quốc tế như Quỹ Châu Á hay Hiệp hội Ultima.

Về hạ tầng công nghệ, đã có 3 trên 4 trường ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp như Libol 5.0 (Trường Đại học Văn hóa, Trường Đại học Mỹ thuật) và IESVN (Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh với dự án thư viện điện tử trị giá 3,8 tỷ đồng). Tuy nhiên, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh vẫn vận hành theo mô hình thư viện truyền thống, xử lý nghiệp vụ thủ công và áp dụng kho đóng hoàn toàn, gây cản trở lớn đến khả năng tiếp cận trực tiếp của bạn đọc đối với 5.684 tài liệu nghe nhìn đa phương tiện.

Toàn bộ dữ liệu khảo sát có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu môn loại DDC, biểu đồ cột nhóm so sánh phân bổ ngôn ngữ và bảng ma trận diện tích phục vụ. Những minh họa này làm nổi bật bức tranh mất cân đối giữa tỷ lệ tài liệu chuyên ngành sâu và khối tài liệu khoa học cơ bản, đồng thời khẳng định tính cấp thiết của việc mở rộng diện tích kho đọc mở.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng khai thác nguồn tin văn hóa nghệ thuật trong giai đoạn mới, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược có tính khả thi cao:

Tái cơ cấu chính sách bổ sung và nâng cao chất lượng nguồn tài liệu: Ban Giám hiệu cùng Ban Quản lý Thư viện 4 trường cần xây dựng danh mục bổ sung ưu tiên, tăng định mức kinh phí mua sắm tài liệu hàng năm thêm tối thiểu 15% đến 20%. Mục tiêu đến năm 2015 nâng chỉ tiêu sách bình quân tại Trường Đại học Văn hóa từ 5,37 bản lên tối thiểu 10 bản/sinh viên và các trường còn lại đạt chuẩn 15 bản/sinh viên.

Số hóa toàn diện và phát triển nguồn tài nguyên nội sinh: Trung tâm Thông tin - Thư viện các trường chủ trì triển khai dự án số hóa 100% kho tài liệu xám, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và các chương trình biểu diễn nghệ thuật quý hiếm. Cần hoàn thành việc số hóa hơn 3.192 luận văn, luận án sẵn có trong giai đoạn 2011-2015, thiết lập cơ sở dữ liệu toàn văn phục vụ tra cứu trực tuyến qua mạng nội bộ.

Thiết lập mạng lưới liên thông và chia sẻ nguồn lực thông tin: Vụ Thư viện thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Liên hiệp Thư viện các trường Đại học phía Nam (VILASAL) xây dựng cổng tích hợp tra cứu chung (OPAC liên thư viện). Giải pháp này cho phép liên kết hơn 50.000 biểu ghi thư mục theo chuẩn MARC 21 và khung phân loại Dewey (DDC), thực hiện mượn liên thư viện bắt đầu từ giai đoạn 2012-2014.

Chuyển đổi mô hình phục vụ và đào tạo kỹ năng tìm tin: Bộ phận phục vụ bạn đọc tại Nhạc viện và Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh khẩn trương chuyển đổi từ kho đóng sang kho mở hoàn toàn hoặc bán mở. Phòng Đào tạo phối hợp Thư viện đưa chương trình "Kỹ năng tìm kiếm và khai thác thông tin học thuật" thành môn học bắt buộc cho 100% sinh viên năm thứ nhất, triển khai định kỳ từ năm học 2011-2012.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính với các use case cụ thể:

Ban Giám hiệu và Cán bộ Quản lý giáo dục nghệ thuật: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận và số liệu thực chứng để hoạch định chính sách đầu tư cơ sở vật chất, phân bổ ngân sách thư viện hợp lý và hoàn thiện quy chế tổ chức trung tâm thông tin tư liệu theo Điều 44 Điều lệ trường đại học.

Cán bộ Thông tin - Thư viện tại các trường chuyên ngành: Nắm bắt phương pháp phân loại, biên mục tài liệu đặc thù như bản nhạc, kịch bản sân khấu, tranh ảnh, phim tư liệu theo chuẩn ISBD, MARC 21 và DDC. Cán bộ có thể ứng dụng trực tiếp để thiết lập dịch vụ cung cấp thông tin chọn lọc (SDI) và xây dựng bộ máy tra cứu OPAC hiệu quả.

Giảng viên và Nghiên cứu sinh ngành Khoa học Thư viện, Quản trị Thông tin: Cung cấp khung phương pháp luận đánh giá hiệu quả vốn tài liệu, kỹ thuật khảo sát người dùng tin phân tầng và mô hình tổ chức thư viện chuyên ngành. Công trình là tài liệu phục vụ giảng dạy môn Phát triển vốn tài liệu và Dịch vụ thông tin.

Sinh viên, Học viên Cao học khối ngành Văn hóa Nghệ thuật: Giúp người học nắm vững cấu trúc kho tài nguyên thông tin chuyên ngành tại Thành phố Hồ Chí Minh, tối ưu hóa kỹ năng tra cứu tài liệu phục vụ thực hiện đồ án tốt nghiệp, khóa luận và các công trình biểu diễn nghệ thuật.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn lực thông tin tại thư viện các trường văn hóa nghệ thuật có đặc điểm gì khác biệt so với các đại học đa ngành? Nguồn tin nghệ thuật mang tính đặc thù sâu sắc với tỷ lệ tài liệu chuyên môn chiếm trên 80% vốn sách (Mỹ thuật đạt 86%, Nhạc viện đạt 83,57%). Bên cạnh sách in, thư viện lưu trữ khối lượng lớn tài liệu nghe nhìn phi văn bản như 5.684 băng đĩa âm nhạc và 1.424 tư liệu điện ảnh.

Vì sao tài liệu ngoại văn chiếm tỷ lệ lớn trong các thư viện nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh? Do thị trường xuất bản trong nước thiếu hụt nghiêm trọng sách chuyên khảo và giáo trình nghệ thuật bằng tiếng Việt. Các trường buộc phải bổ sung tài liệu tiếng Anh (chiếm 34% tại Đại học Mỹ thuật), tiếng Pháp (17% tại Nhạc viện) và tiếng Nga (14%) qua con đường nhập khẩu hoặc tiếp nhận tài trợ quốc tế.

Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin tại các thư viện này tính đến năm 2010 ra sao? Có 3 trên 4 trường đã vận hành phần mềm quản trị chuyên nghiệp như Libol 5.0 và IESVN với dự án đầu tư 3,8 tỷ đồng tại Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh. Tuy nhiên, Nhạc viện vẫn quản lý thủ công và duy trì kho đóng 100%, chưa đáp ứng tiêu chuẩn tự động hóa thư viện.

Chỉ số bản sách trên đầu sinh viên tại các trường đạt mức độ nào? Chỉ số này dao động từ 5,37 bản sách/sinh viên tại Trường Đại học Văn hóa đến 14,36 bản sách/sinh viên tại Trường Đại học Mỹ thuật. Mức này cao hơn bình quân 4,45 bản/người dùng của 9 trường đại học lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng vẫn cần nâng lên mức chuẩn 15 bản/sinh viên.

Nguồn tài liệu nội sinh tại các trường gồm những gì và được khai thác ra sao? Nguồn nội sinh gồm hơn 3.192 khóa luận, luận văn, luận án và công trình nghiên cứu khoa học của cán bộ, sinh viên. Đây là nguồn tri thức độc bản, phản ánh trực tiếp năng lực đào tạo của từng trường nhưng cần được đẩy mạnh số hóa để phục vụ trực tuyến.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin văn hóa nghệ thuật và khẳng định vai trò quyết định của công tác thư viện trong nâng cao chất lượng đào tạo đại học.
  • Đánh giá chi tiết thực trạng 4 thư viện trường văn hóa nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh với quy mô hơn 52.699 bản sách, chỉ ra tính chất chuyên môn hóa cao (trên 80% tài liệu chuyên ngành) cùng sự phụ thuộc lớn vào nguồn sách ngoại văn (chiếm từ 18% đến 34%).
  • Phân tích rõ nét hiện trạng đội ngũ nhân sự với 82% cán bộ trẻ từ 20 đến 40 tuổi, có trình độ nghiệp vụ vững vàng và tinh thần học tập nâng cao đạt 63,6%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ tái cơ cấu bổ sung, chuyển đổi mô hình kho mở, số hóa 100% tài liệu nội sinh đến liên thông dữ liệu qua chuẩn MARC 21 và DDC.
  • Vạch rõ lộ trình hiện đại hóa thư viện chuyên ngành nghệ thuật giai đoạn 2011-2015 nhằm đạt chuẩn 15 bản sách/sinh viên và hội nhập mạng lưới thông tin khu vực.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn tiên phong cho hệ thống thư viện văn hóa nghệ thuật phía Nam. Các cơ quan quản lý và đơn vị đào tạo cần khẩn trương đầu tư hạ tầng số và thúc đẩy liên kết liên thư viện để phát huy tối đa giá trị kho tài nguyên tri thức nghệ thuật nước nhà.