CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁM SÁT HẢI QUAN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 1.1 Khái niệm, đặc điểm của giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu 1.1Khái niệm giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu 1.1 Quan điểm về xuất khẩu, nhập khẩu Xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Nhập khẩu là hoạt động tổ chức, cá nhân mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái xuất nhằm phục vụ mục đích thu lợi nhuận. Nói cách khác, nhập khẩu là việc mua hàng hóa từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hóa tại thị trường nội địa hoặc tái XK với mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu dùng. Cơ sở của XK, NK là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa (bao gồm cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia.
Quan điểm về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: Trong các lý thuyết kinh tế cổ điển, nhiều học giả đã đưa ra quan điểm về hàng hóa, có thể kể đến một số quan điểm chính như sau: - Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể là hữu hình hay ở dạng vô hình (như sức lao động). Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có: (i) Tính ích dụng đối với người dùng; (ii) Giá trị kinh tế, nghĩa là được chi phí bởi lao động; (iii) Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm.
7 - David Ricardo cho rằng hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là: giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng của hàng hóa là ích dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Ở một số văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, khái niệm về hàng hóa cũng được đề cập: - Theo Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số: 05/2007/QH12 ngày 21/11/2007, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị.
Trong đó, sản phẩm được định nghĩa là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng. Định nghĩa này là tương đồng với quan điểm của kinh tế chính trị Marx-Lenin về hàng hóa. - Theo Điều 4 Luật Giá số: 11/2012/QH13, hàng hóa được định nghĩa là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản. Khái niệm này được đánh giá là rõ ràng hơn so với khái niệm về hàng hóa trong Luật Chất lượng sản phẩm.
Như vậy có thể hiểu: Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là sản phẩm của quá trình sản xuất (có thể là nguyên liệu, vật tư, thành phẩm, bán thành phẩm) được các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp mua bán, trao đổi qua biên giới của quốc gia.2 Khái niệm giám sát hải quan (GSHQ) hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ thanh tra, giám sát được hiểu như sau: - Thanh tra là đến tận nơi xem xét, kiểm tra sự việc nhằm đưa các hoạt động theo định hướng và theo các quy trình, quy phạm đã được xác định trên các văn bản pháp lý nhà nước. - Giám sát là việc theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định hay không. 8 Như vậy, có thể thấy có sự khác biệt giữa khái niệm “thanh tra” và “giám sát”. Thanh tra là việc tổ chức kiểm tra từ bên ngoài của đối tượng bị thanh tra, là hoạt động của cơ quan quản lý cấp trên đối với đối tượng bị kiểm tra.
Giám sát là khái niệm rộng hơn bao gồm cả thanh tra, kiểm tra và theo dõi từ xa với nhiều nội dung thực hiện như phân tích định tính, định lượng, tổng hợp, xử lý số liệu,. Thanh tra thường được tiến hành bằng cách đến tận nơi, trực tiếp kiểm tra, trong khi đó giám sát thường không cần phải đến tận nơi. Trong ngành Hải quan, GSHQ là một trong những hoạt động nghiệp vụ hải quan quan trọng. Việc áp dụng các phương thức GSHQ phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XK, NK, xuất cảnh, nhập cảnh quá cảnh.
Quy định tại Luật Hải quan năm 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan đã chỉ rõ cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro trong việc kiểm tra, GSHQ đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. Quản lý rủi ro được xem là một công cụ hữu hiệu cho quản lý hải quan hiện đại, giúp cho cơ quan Hải quan có thể phân bổ nguồn lực một cách hợp lý mà vẫn đảm bảo quản lý hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động XNK. Trong điều kiện thông quan tự động, kết nối trao đổi thông tin với doanh nghiệp, quản lý rủi ro là cơ sở quan trọng để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan được thực hiện hiệu quả, phù hợp với thông lệ hải quan quốc tế. Theo Khoản 9 Điều 4 Luật Hải quan năm 2005: Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan.
Định nghĩa GSHQ theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Hải quan 2014 có sự kế thừa của Luật Hải quan 2005 và quy định rõ hơn, theo đó: Giám sát hải quanlà biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất 9 cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan[12]. Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm GSHQ hàng hóa XK, NK được hiểu như sau: Giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa,xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan. Giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được coi là hoàn chỉnh khi cả hải quan, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng (doanh nghiệp KDC), tổ chức, cá nhân có hoạt động XK, NK, quá cảnh, xuất cảnh, nhập cảnh đều đạt được mục đích với sự tuân thủ pháp luật và chi phí thấp nhất. Chủ thể của Giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: - Đối với GSHQ truyền thống: Theo quy định tại Điều 27 Luật Hải quan 2001 sửa đổi bổ sung 2005, điểm b khoản 1 và khoản 2 Thông tư 128/2013/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, GSHQ; thuế XK, thuế NK và quản lý thuế đối với hàng hóa XK, NK thì có thể xác định chủ thể thực hiện quyền GSHQ là: công chức hải quan, Chi cục trưởng Chi cục hải quan, Tổng cục trưởng TCHQ.
- Đối với GSHQ điện tử: Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 31 Thông tư 22/2014/TT-BTC quy định thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa XK, NK thương mại thì chủ thể thực hiện quyền GSHQ điện tử cũng giống như trên. Đối tượngcủa Giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: - Đối với giám sát hải quan truyền thống: Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 154/2005 /NĐ-CP thì không phải tất cả mọi hàng hóa XNK thương mại đều là đối tượng của hoạt động GSHQ. 10 Xuất phát từ nội dung, mục đích của hoạt động này, pháp luật chỉ đặt ra trách nhiệm GSHQ đối với hàng hóa XNK thương mại trong những trường hợp nhất định, bao gồm: + Hàng hóa đã làm xong thủ tục hải quan XK nhưng chưa thực XK.Thông thường, hàng hóa sau khi thực hiện hết thủ tục hải quan thì sẽ được XK hoặc NK. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó hàng hóa có thể chưa được XK ngay sau khi làm thủ tục hải quan.
Đối với hàng hóa trong trường hợp này, cơ quan hải quan có thẩm quyền phải thực hiện hoạt động GSHQ. + Hàng hóa đã làm xong thủ tục hải quan XNK nhưng chưa được thông quan. + Hàng hóa XK, NK chưa làm thủ tục hải quan được lưu trong kho, bãi, thuộc phạm vi, địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan. + Hàng hóa quá cảnh.
+ Hàng hóa chuyển cửa khẩu. + Hàng hóa chuyển cảng. Đối với bất kỳ loại hàng hóa XNK thương mại nào nếu rơi vào nếu rơi vào một trong số năm trường hợp kể trên thì sẽ phải trải qua thủ tục GSHQ. - Đối với giám sát hải quan điện tử: Căn cứ tại khoản 1 Điều 31 Thông tư 22/2014/TT-BTC thì đối tượng chịu sự GSHQ điện tử cũng giống như GSHQ truyền thống.2 Đặc điểm của giám sát hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu GSHQ hàng hóa XK, NK có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, GSHQ hàng hóa XK, NK luôn gắn liền với nhiệm vụ của hải quan, hỗ trợ tốt cho hoạt động hải quan và là một khâu không thể tách rời trong quy trình nghiệp vụ hải quan.
Thứ hai, đặc điểm về thời gian GSHQ hàng hóa XK, NK: 11 - Hàng hóa NK chịu sự GSHQ từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan, giải phóng hàng hóa và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. - Hàng hóa XK miễn kiểm tra thực tế hàng hóa chịu sự GSHQ từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa XK chịu sự GSHQ từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế hàng hóa đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. - Hàng hóa quá cảnh chịu sự GSHQ từ khi tới cửa khẩu nhập đầu tiên đến khi ra khỏi cửa khẩu xuất cuối cùng.