Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý hàng hóa xuất khâu, nhập khẩu trong quy trình thủ tục hải quan điện tử Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong quy trình thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan TP. Đà Nẵng Chương 3: Các giải pháp nâng cao công tác quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong quy trình thủ tục hải quan điện tử TP. Đà Nẵng, CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA CONG TAC QUAN LY HANG HOA XUAT KHAU, NHAP KHAU TRONG QUY TRINH THU TUC HAI QUAN DIEN TU’ 1. MOT SO VAN DE CHUNG VE QUY TRINH THU TUC HAI QUAN DIEN TU DOI VOI HANG HOA XUAT KHAU, NHAP KHAU 1.
Khái niệm quy trình thú tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu 1. Hải quan và thủ tục hải quan - Hai quan: Là cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện chủ quyền quốc gia trong giao thương quốc tế. Thực hiện đảm bảo an ninh kinh tế, an toàn xã hội bằng việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát, thu thuế và phí, thông quan và ngăn ngừa vi phạm pháp luật, gian lận thương mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khâu hàng hóa, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh và quá cảnh. [11] ~ Thủ tục hải quan: Luật Hài quan (Việt Nam) định nghĩa “thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy địnhcủa luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải”.
Công ước Kyoto dinh nghĩa tổng quát: “thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động mà cơ quan hải quan và những người có liên quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hải quan”. ~ Thủ tục hải quan truyền thống: Là thủ tục hải quan được thực hiện bằng hình thức thủ công và bắt đầu có sự ứng dụng cơ giới hóa (bằng fax, điện tín và kiểm tra hành lý, hàng hóa bằng máy soi đơn giản) trong quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và xuất nhập cảnh phương tiện vận tải ở mỗi quốc gia ~ Thủ tục hải quan điện từ: Là tất cả các hoạt động mà cơ quan hải quan và các bên liên quan phải thực hiện nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật hải quan, dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật số, phương tiện giao tiếp internet. Thủ tục hải quan điện tử a. Khai niệm về thủ tục hải quan điện tứ Để hiểu rõ thủ tục HQ điện tử là gì, trước hết chúng ta hãy bắt đầu bằng khái niệm thủ tục HQ.
Theo định nghĩa tại chương 2 Công ước Kyoto: “Thú tục HQ là tất cả các hoạt động mà cơ quan HQ và những người có liên quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật HQ”. Theo quy định của Luật HQ năm 2014, tại khoản 23, Điều 4 thì “Thủ tục HQ là các công việc mà người khai HQ và công chức HQ phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải.” Trước đây, ở Việt Nam, thủ tục HQ chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp truyền thống (hoàn toàn dựa vào hồ sơ giấy) hoặc bán truyền thống (khai báo từ xa) - kết hợp giữa truyền thống và điện tử (khai báo bằng đĩa mềm, khai báo qua mạng internet kết hợp hồ sơ giấy). Trong phương pháp này, luôn có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người khai HQ và công chức HQ trong quá trình làm thủ tục HQ và sử dụng hồ sơ giấy. Hiện nay, ngoài phương pháp truyền thống, bán truyền thống, thủ tục HQ còn được thực hiện hoàn toàn bằng phương tiện điện tử (hệ thống xử lý dữ liệu điện tử).
Người khai HQ có thể đăng ký hồ sơ làm thủ tục HQ bằng cách tạo, gửi các thông tin dưới dạng điện tử đến cơ quan HQ và nhận các thông tin (cũng dưới dạng điện tử) phản hồi từ phía cơ quan HQ thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử. Công chức HQ tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ do DN gửi đến và thông báo kết quả xử lý hồ sơ cho DN cũng thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử. Trong việc làm thủ tục HQ, người khai HQ và công chức HQ không có sự tiếp xúc trực tiếp (trừ một số trường hợp ngoại lệ). Theo quy định tại Khoản I Điều 3 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chỉ tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan thì Thủ tục HQĐT là thủ tục HQ, trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan [3].
Như vậy, trong thủ tục HQĐT thì người khai HQ được khai và gửi hồ sơ HQ thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của HQ. Đối với công chức HQ thì việc tiếp nhận và đăng ký hồ sơ HQ được thực hiện hoàn toàn thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của HQ. LC trò của thủ tục hải quan điện từ - Đối với hội nhập quốc tế: gắn kết nhanh, xóa bỏ rào cản về địa lý, hiệu lực cao, hiệu quả tốt của TTHQĐT trong hợp tác và phát triển giao thương giữa các quốc gia - Đối với công tác quản lý Nhà nước: Cho phép đơn giản hóa, giảm thiểu số lượng thủ tục hành chính của ngành hải quan. Cho phép thực hiện triệt để hơn nguyên tắc quản lý tập trung thống nhất.
Tác động và thúc đây các cơ quan quản lý Nhà nước đây nhanh quá trình hiện đại hóa - ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục hành chính. Minh bạch, rõ ràng nên cho phép tăng cường hiệu lực và hiệu quả của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hải quan. - Đối với doanh nghiệp: Tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp do cắt giảm chi phí về phí làm tờ khai hải quan, giảm thời gian kiểm tra hồ sơ hải quan, giảm chỉ phí lưu kho bãi hàng hóa, giảm chỉ phí đưa và nhận hối lộ với công chức hải quan. “Tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp hội nhập quốc tê, xóa bỏ các rào cản quốc gia do thực hiện “một cửa quốc gia”, “một cửa khu vực”.
Giới thiệu về Hệ thống VNACCS/VCIS Hệ thống VNACCS/VCIS (Viet Nam Automated Cargo Clearance System) la hé thống xử lý dữ liệu điện tử hiện nay mà cơ quan hải quan dùng để thực hiện tiếp nhận, đăng ký hồ sơ hải quan và thông quan hàng hóa xuất khâu, nhập khâu cho. Hệ thống VNACCS/VCIS được Hải quan Nhật Bản chuyền giao cho Hải quan Việt Nam trên tỉnh thần quan hệ hợp tác chiến lược giữa hai nước theo gói hỗ trợ toàn diện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại để phát triển và xây dựng hệ thống thông quan tự động cho Hải quan Việt Nam dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến của hệ thông NACCS/CIS của Nhật Bản. Hệ thống VNACCS/VCIS gồm 02 hệ thống nhỏ: a. Hệ thống VNACCS là Hệ thông thông quan tự động dùng để thông quan hàng hóa.
So với hệ thống hiện hành, Hệ thống VNACCS có điểm mới là tập trung cả 03 khâu: Khâu trước, trong và sau thông quan. Hệ thống hiện tại chỉ tập trung khâu trong và sau thông quan. Hệ thống VNACCS mở rộng thêm các chức năng, thủ tục mới, đó là thủ tục đăng ký danh mục. miễn thuế, thủ tục áp dụng chung cả hàng mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá thấp, quản lý hàng hóa tạm nhập - tái xuất.
Chức năng khác của Hệ thống VNACCS là tăng cường kết nối với các Bộ, Ngành bằng cách áp dụng Cơ chế một cửa (Single Window). Theo thiết kế, Hệ thống VNACCS có sự kết nối với các Bộ, Ngành. Cơ quan Hải quan sẽ gửi thông tin liên quan đến việc xin cấp phép của các cơ quan chuyên ngành. Kết quả xử lý cấp phép sẽ được thực hiện thông qua Hệ thống.
Tiếp nhận và xử lý phân luồng tự động thông tin khai báo của doanh nghiệp. Hạn chế sử dụng hồ sơ giầy thông qua việc áp dụng chữ ký điện tử. Thời gian xử lý đối với hàng luồng xanh là 1-3 giây. Thời gian xử lý đối với luồng vàng và luồng đỏ phụ thuộc vào thời gian kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa.
Hệ thống VNACCS kết nối với nhiều hệ thống công nghệ thông tin của các bên liên quan như: Doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, cảng, dịch vụ, giao nhận, vận chuyển, ngân hàng, các Bộ, Ngành liên quan. Về khai báo và xử lý thông tin khai báo trước thông quan: Trước thông quan, hệ thống VNACCS hỗ trợ tập trung xử lý thông tin trước khi hàng đến/khai báo dé phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát hải quan tại các khâu khai báo. Một trong những nội dung thay đổi tương đối lớn của Hệ thông VNACCS liên quan đến hàng gia công, sản xuất xuất khẩu và chế xuất. Khi áp dụng Hệ thống 'VNACCS sẽ thực hiện theo hướng thanh khoản theo từng tờ khai, thực hiện quản lý theo từng phương tiện vận tải.
Doanh nghiệp sẽ thực hiện tự khai, tự chịu trách nhiệm và tự thanh khoản. Cơ quan Hải quan chỉ kiểm tra trên cơ sở thông tin quản lý rủi ro đối với việc thanh khoản Về xác định trị giá. Hiện tại, Việt Nam áp dụng 06 mẫu Tờ khai trị giá tương ứng với 06 phương pháp xác định trị giá. Khi áp dụng Hệ thống VNACCS cho phép gộp một số chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp trị giá giao dịch vào tờ khai nhập khẩu.
Do đó, về cơ bản, đối với phương pháp trị giá giao dịch không cần phải khai riêng tờ khai trị giá như hiện nay. Để đảm bảo việc thông quan hàng hóa nhanh chóng, những lô hàng có sự nghỉ vấn về giá sẽ chuyền sang khâu sau thông quan dé xác định. Bộ phận nào xử lý việc này sẽ được cân nhắc cụ thể trước khi đưa hệ thống này đi vào vận hành. Về giám sát, quản lý hải quan đối với một số loại hình: khi áp dụng Hệ thống VNACCS, hé thống sẽ được thực hiện theo hướng đơn giản hóa, gồm các quy trình thủ tục theo hướng chuyển cửa khẩu, chuyển cảng, quá cảnh,.về loại hình là hàng hóa vận chuyên chịu sự giám sát của hải quan vì bản chất là việc chuyển hàng hóa từ địa điêm này sang địa điểm khác, chịu sự giám sát của hải quan.
Hiện tại chưa có loại hình đối với chuyển cảng.