CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ðẦU TƯ BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về dự án ñầu tư bằng vốn NSNN 1. Hoạt ñộng ñầu tư [25], [26] 1. Khái niệm ñầu tư Thực tiễn cho thấy, ñầu tư là hoạt ñộng hết sức quan trọng ñối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, với tầm quan trọng của ñầu tư ñối với nền kinh tế không làm cho người ta dễ thống nhất về khái niệm ñầu tư.
Sau ñây là những quan niệm ñiển hình về ñầu tư của một số nhà kinh tế học. - Nhà kinh tế học John M. Keynes cho rằng: ñầu tư là hoạt ñộng mua sắm tài sản cố ñịnh ñể tiến hành sản xuất hoặc có thể mua tài sản tài chính ñể thu lợi nhuận. “ðầu tư, theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc công ty mua sắm một tài sản.
ðôi khi, thuật ngữ này còn bị giới hạn trong việc mua một tài sản tại sở giao dịch chứng khoán” [38 tr116-177]. Ống nói ñến ñầu tư mua sắm tài chính, song chủ yếu tập trung vào khái niệm ñầu tư tạo thêm tài sản vật chất mới. - Nhà kinh tế học P.A Samuelson có quan ñiểm: ñầu tư là hoạt ñộng tạo ra vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, ñầu tư vào tài sản cố ñịnh của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. ðầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nhân lực, nghiên cứu, phát minh… ðối với ông, trong thuật ngữ tài chính, ñầu tư mang một nghĩa hoàn toàn khác, dùng ñể chỉ mua một loại chứng khoán [47tr762] hay nói cách khác, ñó không phải ñầu tư thực sự của nền kinh tế.
Trên góc ñộ làm tăng thu nhập cho tương lai, ñầu tư ñược hiểu là: Hoạt ñộng kinh tế từ bỏ tiêu dùng hiện nay với tầm nhìn ñể tăng sản lượng trong tương lai. Trên góc ñộ rủi ro ñầu tư, ñầu tư ñược hiểu là “canh bạc của tương lai” với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do ñầu tư ñem lại sẽ cao hơn chi phí ñầu tư [47tr 111-115]. Các vấn ñề mà P.Samuelson nêu ra trong cách tiếp cận về ñầu tư ñã cho biết: ðầu tư là hy sinh tiêu dùng hôm nay ñể có thu nhập 11 cao hơn trong tương lai và ñó là quá trình chứa ñựng những rủi ro. Nhà kinh tế R.Gordon thì cho rằng: ñầu tư là ñưa thêm sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sản sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất cũ ñã hao mòn.
ðầu tư bao gồm ñầu tư tồn kho và ñầu tư cố ñịnh [55 tr 77- 78]. Khái niệm của ông nêu ra ñã xem xét ñầu tư trên giác ñộ kết quả của hoạt ñộng ñầu tư ñem lại cho nền kinh tế trong quá trình tái sản xuất. - Nhóm tác giả Jack Hirshleifer- Amihai Glazer thì tiếp cận khái niệm ñầu tư từ sự lựa chọn cá nhân với tư cách là người tiêu dùng hoặc người sở hữu nguồn lực. Các tác giả này cho rằng, ñầu tư là cách lựa chọn thứ ba, trung gian giữa tiêu dùng và sở hữu nguồn lực.
Ngoài việc mỗi cá nhân phải quyết ñịnh xem tiêu dùng loại sản phẩm gì, kinh doanh nguồn lực như thế nào thì cần phải tiết kiệm ñể có thêm nguồn lực mới. ñầu tư là tạo thêm các nguồn lực mới, còn những hoạt ñộng tìm kiếm lợi nhuận mà không tạo ra nguồn lực mới thì không phải ñầu tư [37tr437]. - Tác giả Pierrce Conso cho rằng, khái niệm ñầu tư cần ñược xét trên từng quan ñiểm. (i) Theo quan ñiểm kinh tế thì ñầu tư làm tăng vốn cố ñịnh, tham gia vào hoạt ñộng của doanh nghiệp trong nhiều kỳ kinh doanh nối tiếp.
ðó là quy trình làm tăng tài sản cố ñịnh ñể sản xuất kinh doanh. (ii) Theo quan ñiểm tài chính, ñầu tư là quá trình làm bất ñộng hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong thời kỳ tiếp sau. - Trong cuốn “Từ ñiển kinh tế học hiện ñại” do D.W Pearce biên soạn thì ñưa ra khái niệm: ñầu tư là khoản chi tiêu cho các dự án bổ sung vốn vật chất, nguồn nhân lực và hàng tồn kho [31 tr531].W Pearce ñã tiếp cận khái niệm ñầu tư trên góc ñộ sử dụng vốn cho ñối tượng cụ thể. Tóm lại có thể khái quát chung lại của khái niệm ñầu tư là “ðầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại ñể tiến hành các hoạt ñộng nhằm thu ñược các kết quả, thực hiện ñược những mục tiêu nhất ñịnh trong tương lai”.
Trong ñó các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao ñộng và trí 12 tuệ. Những kết quả ñạt ñược có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc là tài sản trí tuệ và nguồn lực có ñủ ñiều kiện ñể làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội. Khái niệm vốn ñầu tư [7], [25], [26] a. Khái niệm Vốn ñầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các ñơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy ñộng từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài.
nhằm ñể: tái sản xuất, các tài sản cố ñịnh ñể duy trì hoạt ñộng của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, ñể ñổi mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo ñiều kiện cho sự bắt ñầu hoạt ñộng của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới ñược bổ sung hoặc mới ñược ñổi mới. ðặc ñiểm về vốn ñầu tư Thứ nhất, ñầu tư ñược coi là yếu tố khởi ñầu cơ bản của sự phát triển và sinh lời. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lời, trong ñó có yếu tố ñầu tư. Nhưng ñể bắt ñầu một quá trình sản xuất hoặc tái mở rộng quá trình này, trước hết phải có vốn ñầu tư.
Nhờ sự chuyển hoá vốn ñầu tư thành vốn kinh doanh tiến hành hoạt ñộng, từ ñó tăng trưởng và sinh lời. Trong các yếu tố tạo ra sự tăng trưởng và sinh lời này vốn ñầu tư ñược coi là một trong những yếu tố cơ bản. ðặc ñiểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của ñầu tư trong việc phát triển kinh tế mà còn chỉ ra ñộng lực quan trọng kích thích các nhà ñầu tư nhằm mục ñích sinh lời. Tuy nhiên, ñộng lực này thường vấp phải những lực cản bởi một số ñặc ñiểm khác.
Thứ hai, ñầu tư ñòi hỏi một khối lượng vốn lớn, khối lượng vốn ñầu tư lớn thường là tất yếu khách quan nhằm tạo ra những ñiều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết ñảm bảo cho tăng trưởng và phát triển kinh tế như: Xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng các cơ sở công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, công nghiệp hoá dầu, công nghiệp lương thực thực phẩm, ngành ñiện năng. Vì sử dụng một khối lượng vốn khổng lồ, nên nếu sử dụng vốn kém hiệu quả sẽ gây nhiều phương hại ñến sự phát triển kinh tế xã hội. ðặc biệt, sử dụng vốn 13 ñầu tư nước ngoài với khối lượng vốn lớn và kém hiệu quả thì gánh nợ nước ngoài ngày càng chồng chất vì không có khả năng trả nợ, tình hình tài chính khó khăn sẽ dẫn ñến khủng hoảng tài chính tiền tệ. Các cơn lốc khủng hoảng tài chính tiền tệ vừa qua là những ñiển hình về tình trạng này.
Thứ ba, quá trình ñầu tư XDCB phải trải qua một quá trình lao ñộng rất dài mới có thể ñưa vào sử dụng ñược vì sản phẩm XDCB mang tính ñặc biệt và tổng hợp. Sản xuất không theo một dây truyền hàng loạt mà mỗi công trình, dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố ñiều kiện tự nhiên, ñịa ñiểm hoạt ñộng thay ñổi liên tục và phân tán, thời gian khai thác và sử dụng thường là 10 năm, 20 năm, 50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính chất dự án. Quá trình ñầu tư thường gồm ba giai ñoạn: Xây dựng dự án, thực hiện dự án và khai thác dự án. - Giai ñoạn xây dựng dự án, giai ñoạn thực hiện dự án là giai ñoạn tất yếu, những giai ñoạn này lại kéo dài mà không tạo ra sản phẩm.
ðây chính là nguyên nhân của công thức “ðầu tư mâu thuẫn với tiêu dùng”, vì vậy, có nhà kinh tế cho rằng ñầu tư là quá trình làm bất ñộng hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này, cho nên muốn nâng hiệu quả sử dụng vốn ñầu tư cần chú ý tập trung các ñiều kiện ñầu tư có trọng ñiểm nhằm ñưa nhanh dự án vào khai thác. - Khi xét hiệu quả ñầu tư cần quan tâm xem xét toàn bộ ba giai ñoạn của quá trình ñầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai ñoạn thực hiện dự án mà không chú ý vào cả thời gian khai thác dự án. - Do chú ý sản xuất kéo dài nên việc hoàn vốn ñược các nhà ñầu tư ñặc biệt quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp ñể giảm mức tối ña thiệt hại do ứ ñọng vốn ở sản phẩm dở dang, việc coi trọng hiệu quả kinh tế do ñầu tư mang lại là rất cần thiết nên phải có các phương án lựa chọn tối ưu, ñảm bảo trình tự XDCB. Thời gian hoàn vốn là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc ño lường và ñánh giá hiệu quả vốn ñầu tư.
Thứ tư, ñầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn. Rủi ro, trong lĩnh vực ñầu tư XDCB chủ yếu do thời gian của quá trình ñầu tư kéo dài. Trong thời gian này, các 14 yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên ảnh hưỏng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà ñầu tư không lường ñịnh hết các yếu tố ñược ñầu tư khi lập dự án. Sự thay ñổi chính sách như quốc hữu hoá các cơ sở sản xuất, thay ñổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay ñổi thị trường, thay ñổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho các nhà ñầu tư, tránh ñược hoặc hạn chế rủi ro sẽ thu ñược những món lời lớn, và ñây là niềm hy vọng kích thích các nhà ñầu tư.