Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nâng cao hứng thú học tập Lịch sử qua các cuộc thi tái hiện lịch sử (Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVIII - Sách giáo khoa Lịch sử 10 — Ban Cơ bản)" do sinh viên Dương Thị Thanh Nga thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Đào Thị Mộng Ngọc tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (niên khóa 2007 - 2011).
Về lý do khoa học, tác giả căn cứ vào đặc thù của bộ môn Lịch sử: học sinh không thể tri giác trực tiếp các sự kiện đã diễn ra trong quá khứ mà phải tiếp cận gián tiếp qua nhận thức và tái hiện. Dẫn luận điểm của Heraclitus ("Không ai tắm được hai lần trên cùng một dòng sông"), nhận định của nhà sử học Pháp Marc Bloch về kinh nghiệm lịch sử, và quan điểm mác-xít về hai chức năng cơ bản của môn học là giáo dục và giáo dưỡng, tác giả khẳng định việc dạy học Lịch sử đòi hỏi phải chuyển giao quá trình nhận thức từ thụ động sang chủ động thông qua việc tái tạo hình ảnh lịch sử sinh động và hợp quy luật.
Về lý do thực tiễn, thực trạng dạy học bộ môn Lịch sử tại các trường phổ thông thời điểm nghiên cứu tồn tại hiện tượng giáo viên chỉ sử dụng giáo án viết tay để "dạy chay", truyền thụ một chiều. Do hạn chế về cơ sở vật chất, thiếu kinh phí cho các hoạt động tham quan di tích hay trang thiết bị trực quan, học sinh học tập một cách gượng ép, có "học" nhưng thiếu "hành". Khái niệm "hành" trong môn Lịch sử được tác giả xác định là việc ứng dụng tri thức vào nhận thức và thực tế học tập, cụ thể là việc trực tiếp tham gia tái hiện các biến cố quá khứ. Tuy nhiên, các hoạt động tái hiện tại trường phổ thông lúc bấy giờ chỉ dừng lại ở quy mô các tiết mục nhỏ lẻ trong các ngày lễ kỷ niệm, chưa được tổ chức bài bản gắn với nội dung bài học.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học (triết học, sinh lý học, tâm lý - giáo dục học) và cơ sở thực tiễn của phương pháp dạy học thông qua hành động, cụ thể là hình thức tổ chức cuộc thi tái hiện lịch sử.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng nhận thức của sinh viên sư phạm Lịch sử và học sinh phổ thông về các cuộc thi tái hiện lịch sử.
- Xác lập các nguyên tắc sư phạm và quy trình phương pháp tổ chức cuộc thi tái hiện lịch sử ở trường phổ thông.
- Xây dựng hệ thống kịch bản mẫu vận dụng trong phạm vi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVIII.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại bài 23 Sách giáo khoa Lịch sử 10 Ban Cơ bản để kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của giải pháp.
Đối tượng nghiên cứu là các cuộc thi tái hiện lịch sử ở trường Trung học phổ thông (THPT). Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung giới hạn trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVIII theo chương trình Sách giáo khoa Lịch sử 10 Ban Cơ bản. Phạm vi khảo sát thực tiễn gồm 143 sinh viên Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh và 294 học sinh tại 6 trường THPT thuộc TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Thuận.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết đa tầng bậc, bao gồm:
- Cơ sở triết học về lý luận nhận thức: Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng của V.I. Lênin về con đường nhận thức chân lý ("Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn"). Tác giả phân tích các giai đoạn nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng) và nhận thức lý tính (khái niệm, phán đoán, suy lý), nhấn mạnh vai trò của tưởng tượng và hoạt động thực tiễn nhằm kiểm chứng độ chân thực của tri thức lịch sử.
- Cơ sở sinh lý học: Dựa trên học thuyết phản xạ có điều kiện của I.P. Pavlov về hai hệ thống tín hiệu. Hệ thống tín hiệu thứ nhất hình thành từ tri giác cảm tính qua các giác quan, làm nền tảng cho hệ thống tín hiệu thứ hai là tư duy khái quát trừu tượng. Việc kết hợp nghe, nhìn và vận động trực tiếp giúp củng cố đường liên hệ thần kinh tạm thời, gia tăng độ bền vững của tri thức.
- Cơ sở tâm lý - giáo dục học: Căn cứ các nghiên cứu thực nghiệm của Tô Xuân Giáp (1997) về sự tiếp thu và mức độ lưu giữ thông tin qua các giác quan:
| Kênh tiếp nhận / Hình thức ghi nhớ |
Tỷ lệ tiếp thu / Mức độ lưu giữ |
| Tiếp thu qua vị giác (nếm) |
1,0% |
| Tiếp thu qua khứu giác (ngửi) |
1,5% |
| Tiếp thu qua thính giác (nghe) |
11,0% |
| Tiếp thu qua thị giác (nhìn) |
83,0% |
| Ghi nhớ bằng thính giác thuần túy |
60,0% |
| Ghi nhớ bằng thị giác thuần túy |
70,0% |
| Ghi nhớ phối hợp thính giác - thị giác |
80,0% |
| Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau học: chỉ qua nghe |
20,0% |
| Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau học: chỉ qua nhìn |
30,0% |
| Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau học: kết hợp nghe và nhìn |
50,0% |
| Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau học: qua lời nói trực tiếp |
80,0% |
| Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau học: kết hợp nói và làm |
90,0% |
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng nghiên cứu tâm lý lứa tuổi của PGS. Trần Trọng Thủy về đặc điểm học sinh THPT (tính độc lập, năng lực hợp tác và tính sáng tạo cao), tài liệu của Lê Vinh Quốc (2008) về phương pháp dạy học thông qua hành động (gồm 3 hình thức: nhập vai, đóng giả, trò chơi giáo dục), và khuyến nghị của UNESCO về 4 trụ cột giáo dục thế kỉ XXI: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp giáo dục học: Phân tích bản chất, mục tiêu và ý nghĩa sư phạm của việc tái hiện lịch sử.
- Phương pháp lịch sử: Xem xét các sự kiện kháng chiến chống ngoại xâm theo trật tự thời gian và bối cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử dân tộc.
- Phương pháp logic: Xây dựng hệ thống cấu trúc luận điểm từ lý luận chung đến giải pháp tổ chức cụ thể và kiểm chứng thực nghiệm.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế bảng hỏi thăm dò ý kiến đối với sinh viên sư phạm (143 phiếu) và học sinh THPT (294 phiếu).
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy thực nghiệm có đối chứng để đo lường tính hiệu quả của phương pháp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổ chức các cuộc thi tái hiện lịch sử trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông nhằm góp phần nâng cao hứng thú học tập Lịch sử cho học sinh
Chương này tập trung giải quyết ba vấn đề: cơ sở khoa học - thực tiễn, lý luận về cuộc thi tái hiện và thực trạng tổ chức tại trường phổ thông.
Tác giả so sánh chi tiết mô hình dạy học cổ truyền và dạy học hiện đại:
| Tiêu chí |
Dạy học cổ truyền |
Mô hình dạy học hiện đại |
| Quan niệm |
Học là tiếp thu, lĩnh hội kiến thức, kỹ năng có sẵn |
Học là quá trình kiến tạo; học sinh tự tìm tòi, khám phá, xử lý thông tin |
| Bản chất |
Giáo viên truyền thụ tri thức một chiều |
Giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh |
| Mục tiêu |
Cung cấp tri thức để đối phó thi cử |
Hình thành năng lực hành động, sáng tạo, phương pháp tự học |
| Nguồn nội dung |
Độc tôn sách giáo khoa và kiến thức giáo viên |
SGK kết hợp tư liệu lịch sử, bảo tàng, môi trường thực tế |
| Phương pháp |
Diễn giải, thuyết trình thụ động |
Tìm tòi, giải quyết vấn đề, tương tác |
| Hình thức tổ chức |
Cố định trong bốn bức tường lớp học |
Cơ động, linh hoạt (nhóm, lớp, hội thi, ngoại khóa) |
Về định nghĩa, tác giả trích dẫn Từ điển Tiếng Việt phổ thông để làm rõ khái niệm: "cuộc" là việc có nhiều người tham gia theo một quá trình; "thi" là việc đọ sức tài năng nhằm đoạt giải. Cuộc thi tái hiện lịch sử là hoạt động kết hợp giữa hình thức nhập vai và trò chơi giáo dục, trong đó học sinh dựa trên cốt truyện có thật để trình diễn, xây dựng biểu tượng lịch sử sinh động.
Tác giả đề xuất 6 nguyên tắc bắt buộc khi tổ chức:
- Đảm bảo tính khoa học (bám sát sách giáo khoa và nguồn tư liệu lịch sử gốc đã kiểm chứng).
- Phát huy tính độc lập, tích cực, sáng tạo của học sinh.
- Đảm bảo tính vừa sức (phù hợp trình độ nhận thức từng khối lớp).
- Kết hợp học tập tập thể với từng cá nhân.
- Đảm bảo tính khả thi (tiết kiệm kinh phí, tận dụng điều kiện nhà trường).
- Đảm bảo mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục tư tưởng và phát triển năng lực.
Quy trình tổ chức một cuộc thi được tác giả chuẩn hóa qua 4 bước:
- Công tác chuẩn bị: Xây dựng kế hoạch, xin ý kiến chi bộ/ban giám hiệu, phối hợp Đoàn trường, vận động kinh phí, tập huấn đối tượng dự thi, chuẩn bị địa điểm, âm thanh, ánh sáng.
- Lập kế hoạch chi tiết: Xác định chủ đề, kịch bản chương trình, bảng phân công nhiệm vụ, dự trù kinh phí, tiến độ thực hiện.
- Phổ biến cuộc thi: Báo cáo lãnh đạo, họp phổ biến cho thí sinh, tổ chức tập dượt nội dung.
- Tổ chức thực hiện: Điều hành theo kịch bản, trang trí sân khấu, bố trí ban giám khảo, quản lý âm thanh (máy tăng âm, micro), kỹ năng dẫn chương trình (MC), chấm thi và tổng kết rút kinh nghiệm.
Về thực trạng, khảo sát 143 sinh viên Sư phạm Lịch sử sau Hội thi Nghiệp vụ Sư phạm ngày 21/11/2010 cho thấy 43,36% sinh viên chọn hình thức thi tái hiện cho hoạt động ngoại khóa, song gần 98% xác nhận trường phổ thông rất ít hoặc chưa từng tổ chức hình thức này do khó khăn lớn nhất là kinh phí tốn kém. Khảo sát 294 học sinh tại 6 trường THPT (TP. Hồ Chí Minh: THPT Trần Hưng Đạo, THPT Nguyễn Hữu Cầu, THPT Võ Trường Toản, Trung học Thực hành ĐHSP; Bình Thuận: THPT Phan Thiết, THPT Phan Bội Châu) cung cấp bức tranh về thái độ học tập và nhu cầu đổi mới cách tiếp cận môn học.
Chương II: Vận dụng các cuộc thi tái hiện lịch sử trong phạm vi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVIII
Chương II chuyển giao khung lý luận vào nội dung lịch sử cụ thể thuộc chương trình Lớp 10 Ban Cơ bản. Tác giả khái quát các sự kiện tiêu biểu:
- Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên (thế kỉ XIII) gắn với triều Trần.
- Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và kháng chiến chống quân Minh (thế kỉ XV).
- Cuộc kháng chiến chống quân Xiêm (1785) với chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút.
- Cuộc kháng chiến chống quân Thanh (1789) gắn với cuộc hành quân thần tốc của vua Quang Trung.
Từ các mốc lịch sử này, tác giả thiết kế và đề xuất hệ thống kịch bản tái hiện cụ thể:
- Kịch bản "Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn": Tái hiện chân dung vị tiết chế và tư tưởng quân sự gắn kết lòng dân.
- Kịch bản "Hội nghị Bình Than": Làm nổi bật hào khí chống giặc, sự đồng lòng của vương triều và hình ảnh người anh hùng trẻ tuổi Trần Quốc Toản.
- Kịch bản "Dạ Trạch Vương" và các hoạt cảnh thời Lam Sơn: Tái hiện gian khổ nếm mật nằm gai của nghĩa quân.
- Kịch bản "Quang Trung" và "Cuộc hội bàn trước trận chiến": Tái hiện nghệ thuật quân sự tài tình, lời hiểu dụ tướng sĩ trước khi tiến ra Bắc đại phá 29 vạn quân Thanh vào dịp Tết Kỷ Dậu (1789).
Tác giả lưu ý các kịch bản phải giữ vững lời thoại mang phong cách thời đại, căn cứ vào sử liệu gốc như Đại Việt sử ký toàn thư, không tự ý hiện đại hóa ngôn ngữ hoặc bóp méo động cơ của các nhân vật lịch sử.
Chương III: Thực nghiệm vào Bài 23 “Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII”
Chương III trình bày quá trình thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính ứng dụng thực tế của mô hình:
- Lý do chọn bài: Bài 23 chương trình Lớp 10 Ban Cơ bản chứa đựng các nội dung biến động lớn, nhiều chiến công quân sự vang dội và các nhân vật giàu tính biểu cảm (người áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ), rất thuận lợi cho việc dàn dựng hoạt cảnh tái hiện mà không làm gián đoạn mạch kiến thức chính khóa.
- Thiết kế giáo án giảng dạy: Xây dựng kế hoạch bài giảng kết hợp linh hoạt giữa truyền thụ kiến thức cơ bản với một phân đoạn tái hiện lịch sử do chính học sinh thực hiện ngay trong tiết học nội khóa.
- Tiến hành thực nghiệm: Lựa chọn các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng có tương quan học lực đồng đều. Quá trình triển khai theo dõi mức độ tập trung, tính tích cực tham gia thảo luận và đánh giá bài kiểm tra sau tiết học để đo lường độ bền kiến thức và mức độ hứng thú của học sinh.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu và minh chứng khảo sát:
- Dữ liệu thực trạng: Khảo sát 143 sinh viên Sư phạm Lịch sử chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa nhận thức lý thuyết và thực tiễn: 43,36% sinh viên mong muốn áp dụng hình thức thi tái hiện lịch sử trong trường phổ thông, nhưng gần 98% xác nhận các trường hiện nay gần như không tổ chức vì rào cản kinh phí và công tác điều hành phức tạp.
- Giải pháp tổ chức: Đề xuất mô hình hai cấp độ tổ chức tái hiện lịch sử:
- Cấp độ ngoại khóa toàn trường: Thực hiện theo quy trình 4 giai đoạn hoàn chỉnh, phối hợp chặt chẽ giữa tổ bộ môn Lịch sử và Ban Chấp hành Đoàn trường nhân các dịp lễ lớn để giải quyết bài toán kinh phí.
- Cấp độ nội khóa: Thu gọn quy mô thành các tiểu phẩm ngắn 5-7 phút ngay trong tiết học, do các tổ học sinh tự dàn dựng dưới sự hướng dẫn kịch bản của giáo viên, dùng điểm đánh giá học tập thường xuyên làm hình thức khen thưởng.
- Hệ thống tư liệu kịch bản: Đóng góp một hệ thống kịch bản mẫu bám sát chương trình Lịch sử lớp 10, kết nối tư liệu lịch sử gốc phục vụ trực tiếp cho các giai đoạn chống giặc ngoại xâm tiêu biểu từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVIII.
- Đóng góp học thuật: So với các nghiên cứu trước đây (công trình của GS. Phan Ngọc Liên chỉ xem tái hiện là phương pháp truyền đạt một chiều bằng lời nói của giáo viên; công trình của Lô Đức Quốc Trưởng tập trung vào cuộc thi tìm hiểu dạng câu hỏi đố vui; tài liệu của PGS.TS. Ngô Minh Oanh dừng lại ở dạy học nêu vấn đề), khóa luận của Dương Thị Thanh Nga đã cụ thể hóa phương thức "dạy học thông qua hành động", chuyển đổi học sinh từ vị trí người quan sát thụ động sang vị trí chủ thể tái tạo hình ảnh lịch sử.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu tại thời điểm thực hiện:
- Phạm vi nội dung: Đề tài mới chỉ khai thác trong phạm vi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVIII của chương trình Lịch sử 10 Ban Cơ bản; chưa triển khai thử nghiệm trên các phần lịch sử thế giới hoặc lịch sử Việt Nam cận - hiện đại.
- Điều kiện triển khai: Giải pháp tổ chức ở quy mô hội thi sân khấu lớn vẫn phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất (âm thanh, ánh sáng, kinh phí phục trang) của từng trường, gây khó khăn cho các trường ở vùng nông thôn hoặc cơ sở vật chất còn thiếu thốn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu áp dụng phương pháp tái hiện cho các khối lớp khác (lớp 11 và 12); nghiên cứu hình thức sân khấu hóa kết hợp liên môn Lịch sử - Ngữ văn; số hóa các kịch bản mẫu và tư liệu hỗ trợ để giáo viên phổ thông dễ dàng tải về ứng dụng.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử: Cung cấp cơ sở lý luận về dạy học tích cực, tâm lý học tiếp nhận thông tin và cẩm nang phương pháp tổ chức các hoạt động ngoại khóa.
- Giáo viên Lịch sử cấp THPT: Cung cấp giải pháp kỹ thuật cụ thể từ khâu xây dựng kịch bản, lập dự trù kinh phí, điều hành âm thanh - sân khấu đến tiêu chí đánh giá của ban giám khảo.
- Cán bộ Đoàn trường và phụ trách hoạt động trải nghiệm: Cung cấp mô hình hội thi chuyên đề kết hợp văn thể mỹ với kiến thức chuyên môn, gia tăng tính giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh.
- Phần đáng tham khảo nhất: Quy trình 4 bước tổ chức cuộc thi (Chương I) và thiết kế giáo án thực nghiệm tích hợp hoạt cảnh tái hiện trong Bài 23 (Chương III).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận giải thích như thế nào về việc học sinh tham gia tái hiện lịch sử giúp ghi nhớ tri thức bền vững hơn nghe thuyết trình?
Tác giả dẫn số liệu thực nghiệm của Tô Xuân Giáp (1997): học sinh chỉ nhớ được 20% những gì nghe được, 30% những gì nhìn được, nhưng nhớ tới 90% những gì tự mình vừa nói và vừa làm. Khi tham gia tái hiện, học sinh phối hợp cả hệ thống tín hiệu thứ nhất (cảm xúc, hành động, hình ảnh giác quan) và hệ thống tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ, khái niệm lý tính theo học thuyết Pavlov), qua đó khắc phục tình trạng "học vẹt" chỉ để đối phó thi cử.
2. Điểm khác biệt cơ bản giữa đề tài này với công trình của tác giả Lô Đức Quốc Trưởng là gì?
Công trình của Lô Đức Quốc Trưởng (2005 - 2009) nghiên cứu các cuộc thi "tìm hiểu lịch sử" (chủ yếu là trả lời câu hỏi trắc nghiệm, đố vui kiến thức). Đề tài của Dương Thị Thanh Nga tập trung vào "cuộc thi tái hiện lịch sử", đòi hỏi học sinh phải nhập vai, viết kịch bản, diễn xuất và sống trong tâm lý nhân vật lịch sử thông qua hành động cụ thể.
3. Khảo sát trên 143 sinh viên Sư phạm Lịch sử phản ánh khó khăn lớn nhất nào khi tổ chức thi tái hiện ở trường phổ thông?
Khó khăn lớn nhất được phần lớn sinh viên chỉ ra là vấn đề kinh phí tốn kém (trang phục, đạo cụ, âm thanh, giải thưởng) và quy trình tổ chức phức tạp, khiến gần 98% sinh viên cho biết trường phổ thông của mình trước đây rất hiếm khi hoặc không bao giờ tổ chức các cuộc thi dạng này.
4. Yêu cầu bắt buộc khi xây dựng kịch bản tái hiện các nhân vật lịch sử là gì?
Kịch bản phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính khoa học: căn cứ vào sách giáo khoa và các tư liệu lịch sử gốc đáng tin cậy (như văn kiện, chiếu chỉ, thư tịch cổ), tuyệt đối không hiện đại hóa lịch sử bằng ngôn từ cẩu thả, không hư cấu sai lệch bản chất sự kiện hay động cơ của nhân vật lịch sử.
5. Đề tài đã lựa chọn bài học nào để tiến hành thực nghiệm sư phạm và dựa trên lý do gì?
Tác giả chọn Bài 23: "Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII" (SGK Lịch sử 10 Ban Cơ bản). Bài học này được chọn vì chứa đựng các chiến công chống ngoại xâm tiêu biểu (đánh tan quân Xiêm và quân Thanh), nhiều xung đột kịch tính và có hình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, rất thuận tiện để xây dựng kịch bản tái hiện sinh động trong tiết dạy.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Dương Thị Thanh Nga đã giải quyết một vấn đề cấp thiết trong lý luận và phương pháp dạy học Lịch sử ở trường THPT: nâng cao hứng thú học tập thông qua dạy học bằng hành động. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận nhận thức, sinh lý học và số liệu khảo sát thực tế trên 143 sinh viên sư phạm cùng 294 học sinh phổ thông, đề tài đã chuẩn hóa quy trình 4 bước tổ chức cuộc thi tái hiện và hệ thống hóa các kịch bản mẫu từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVIII. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Bài 23 khẳng định tính khả thi của việc đưa hoạt cảnh lịch sử vào bài học, góp phần khắc phục tình trạng truyền thụ kiến thức một chiều trong môn Lịch sử ở trường phổ thông.