Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trịnh Chi Mai với đề tài "Hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam" được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Đăng Khâm và TS. Phạm Thị Định, hoàn thành năm 2013 thuộc chuyên ngành Kinh tế tài chính Ngân hàng (mã số 62.01).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bản chất kinh tế đặc thù của ngành bảo hiểm với chu trình kinh doanh đảo ngược: doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước và thực hiện nghĩa vụ bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm sau khi sự kiện bảo hiểm phát sinh. Trong khoảng thời gian nhất định giữa thời điểm thu phí và thời điểm bồi thường, nguồn tiền thu được tạm thời nhàn rỗi, cho phép doanh nghiệp tiến hành hoạt động đầu tư nhằm gia tăng năng lực tài chính, mở rộng phạm vi bảo hiểm, giảm phí bảo hiểm và tăng cường năng lực cạnh tranh. Đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, các hợp đồng bảo hiểm có kỳ hạn ngắn (thường trong vòng một năm), đòi hỏi sự tương thích cao giữa hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động đầu tư tài chính. Đồng thời, việc giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam thời điểm nghiên cứu dựa trên biên khả năng thanh toán tối thiểu (theo Thông tư số 156/2007/TT-BTC), trong khi các thị trường phát triển đã vận hành theo khung giám sát Solvency và mô hình vốn dựa trên rủi ro (Risk-Based Capital - RBC). Hoạt động đầu tư tác động trực tiếp đến mức chênh lệch giữa tổng tài sản và nợ phải trả, qua đó quyết định khả năng duy trì mức vốn chủ sở hữu tối thiểu để đáp ứng biên khả năng thanh toán.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: khái niệm hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam chưa được định hình với các tiêu chí và nguyên tắc phản ánh đúng đặc thù ngành. Cách tiếp cận phổ biến trước đó chỉ xem xét tỷ suất lợi nhuận hoặc hiệu suất sử dụng vốn như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường, mà chưa gắn lợi nhuận với rủi ro và chưa trả lời được câu hỏi ngưỡng tỷ suất lợi nhuận tối thiểu là bao nhiêu để bù đắp rủi ro kỹ thuật và duy trì khả năng thanh toán thường xuyên.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa lý thuyết về hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
  2. Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu trung tâm được luận án đặt ra: Làm thế nào để nâng cao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam?

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
  • Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại thị trường Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan các công trình nghiên cứu được tác giả phân định thành hai nhóm: nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu trong nước.

Về các công trình nước ngoài, tác giả điểm lại:

  • Boleat (1998) trong công trình "The insurance industry and the financial services authority" phân tích vai trò quản lý của chính phủ đối với doanh nghiệp bảo hiểm và hệ quả chi phí khi cơ quan quản lý thu hẹp sự phân biệt giữa doanh nghiệp bảo hiểm với các thể chế tài chính khác.
  • Masters và Dupont (2002) với nghiên cứu "Insurance companies: waking up to international standards" chỉ ra những khó khăn của doanh nghiệp bảo hiểm khi phải tuân thủ chuẩn mực kế toán quốc tế trong quản trị rủi ro danh mục đầu tư.
  • Karl, Holzheu và Raturi (2003) trong "Capital Markets and Insurance Cycles" làm rõ vai trò của doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường vốn cùng mối liên hệ giữa lãi suất thị trường và chu kỳ đầu tư bảo hiểm giữa thập niên 1990.
  • Artikis, Stanley Mutenga, Sotiris K. Staikouras (2008) với nghiên cứu "A practical approach to blend insurance in the banking network" khảo sát mô hình liên kết bảo hiểm - ngân hàng và chỉ ra toàn cầu hóa chưa hẳn thúc đẩy việc hình thành các tập đoàn bảo hiểm - ngân hàng.
  • Frederic Mishkin (1995) trong "Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính" (Chương 12) xếp doanh nghiệp bảo hiểm vào nhóm định chế tài chính phi ngân hàng, đồng thời phân tích các cuộc khủng hoảng bảo hiểm giai đoạn 1970, 1980 và 1990 tại Hoa Kỳ phát sinh từ suy giảm thu nhập đầu tư kết hợp với sự gia tăng đột biến của các khoản bồi thường.
  • Christian Partrat và Jean-Luc Besson trong tác phẩm "Assurance Non-Vie Modélisation, Simulation" làm rõ cơ sở mô hình hóa danh mục bảo hiểm phi nhân thọ, nguyên lý hạch toán đặc thù và mức độ bù đắp rủi ro đầu tư.

Về các công trình trong nước:

  • Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, PGS. Lưu Thị Hương chủ biên, 2005) trình bày cơ sở lý luận về quản lý đầu tư, phân loại tài sản đầu tư, phương pháp đánh giá dự án qua giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR), thời gian hoàn vốn và mô hình định giá tài sản vốn (CAPM).
  • Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, PGS. Nguyễn Văn Định chủ biên, 2009) và giáo trình Nguyên lý Bảo hiểm (Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, PGS.TS Phan Thị Cúc) xác lập các nguyên tắc đầu tư bảo hiểm, các yếu tố ảnh hưởng, ba mô hình tổ chức đầu tư (phòng đầu tư trực thuộc, công ty/quỹ đầu tư độc lập có cổ phần chi phối, mua cổ phần không chi phối) và việc áp dụng chỉ tiêu NPV cho bảo hiểm phi nhân thọ do kỳ hạn ngắn.
  • Luận án tiến sĩ của Đoàn Trung Kiên (bảo vệ ngày 01/11/2005) về "Giải pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động đầu tư tại các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam" phân định hoạt động đầu tư giữa bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, phân tích thực trạng thị trường đến năm 2004.
  • Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Định (2004) về "Hoạt động đầu tư tại các DNBH Nhà nước ở Việt Nam" tổng kết lý luận và kinh nghiệm quản lý đầu tư tại Pháp và Malaysia với dữ liệu đến năm 2003.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các tài liệu giáo trình và công trình trước đó chưa tiếp cận hiệu quả đầu tư xuất phát từ mối liên kết giữa ba nguyên tắc: an toàn, sinh lời và đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên. Việc đánh giá trước đây chủ yếu dựa vào tỷ suất sinh lời thuần túy mà không đưa ra được chuẩn mức tối thiểu cần đạt để phòng hộ rủi ro bồi thường theo đặc thù chu trình kinh doanh đảo ngược của bảo hiểm phi nhân thọ. Do đó, luận án thiết lập cầu nối giữa ba nguyên tắc đầu tư này với các mô hình tài chính hiện đại để định vị hiệu quả đầu tư trong tính chỉnh thể với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết tài chính hiện đại, lý thuyết phân tích đầu tư, lý thuyết quản trị rủi ro và các quy định pháp lý chuyên ngành bảo hiểm. Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được xác định dựa trên Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Luật Doanh nghiệp năm 2005, với tư cách là loại hình doanh nghiệp dịch vụ kinh doanh rủi ro, cung cấp các sản phẩm bảo vệ tài chính trước các tổn thất về tài sản, trách nhiệm dân sự và con người phi nhân thọ.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp các mô hình và công thức định lượng:

  1. Kỹ thuật định phí và giá trị kỳ vọng bồi thường: Lượng bồi thường được mô hình hóa thành biến ngẫu nhiên $X$. Giá trị kỳ vọng $E(X)$ được xác định: $$E(X) = \sum_{i=1}^{n} x_i p_i \quad \text{(khi } X \text{ rời rạc)}$$ $$E(X) = \int_{-\infty}^{+\infty} x f(x) dx \quad \text{(khi } X \text{ liên tục)}$$ Phí bảo hiểm được xác định cân bằng với giá trị kỳ vọng chiết khấu theo tỷ suất lợi nhuận đầu tư $r$ cộng với chi phí vận hành: $$\text{Phí bảo hiểm} = \text{Phí vận hành} + \frac{E(X)}{1 + r}$$ $$\text{Phí bảo hiểm} = \text{Tỷ lệ phí} \times \text{Số tiền bảo hiểm}$$

  2. Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM): Được vận dụng để xác định tỷ suất sinh lời yêu cầu trên vốn chủ sở hữu: $$\text{Tỷ suất LN yêu cầu} = \text{Tỷ suất LN phi rủi ro} + \text{Hệ số bêta} \times \text{Phần bù rủi ro thị trường}$$

  3. Mô hình đo lường rủi ro giá trị chịu rủi ro (Value at Risk - VaR): Sử dụng để xác định mức độ tổn thất lớn nhất trong chi trả bồi thường vượt mức dự phòng thông thường.

  4. Khung giám sát an toàn vốn: Solvency I, Solvency II, mô hình vốn dựa trên rủi ro (RBC) và quy định biên khả năng thanh toán tối thiểu theo Thông tư số 156/2007/TT-BTC.

Phương pháp nghiên cứu thực tế là sự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật, so sánh cấu trúc vốn quốc tế và phỏng vấn sâu. Nghiên cứu định lượng sử dụng mô hình hồi quy đa biến để đánh giá các nhân tố tác động đến hiệu quả đầu tư.

Phân loại biến Ký hiệu Tên đầy đủ của chỉ tiêu
Biến phụ thuộc (Chỉ tiêu hiệu quả) HSSDVĐT Hiệu suất sử dụng vốn đầu tư
TSLNTTVĐT Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư
KNSL Khả năng sinh lời
KNTTNH Khả năng thanh toán ngắn hạn
Biến độc lập (Nhân tố ảnh hưởng) TLĐTNH Tỷ lệ đầu tư ngắn hạn
TLBĐS Tỷ lệ đầu tư bất động sản
TVĐT Tổng vốn đầu tư
TTDH Trả trước dài hạn
TLDPNV Tỷ lệ dự phòng nghiệp vụ
VCSH Vốn chủ sở hữu

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thị trường bảo hiểm của Cục Quản lý và Giám sát Bảo hiểm - Bộ Tài chính; Báo cáo thường niên của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (HHBHVN); Báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh) của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011; các kết quả điều tra, khảo sát chuyên ngành đã công bố.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua phỏng vấn sâu 30 chuyên gia và nhà quản trị, bao gồm 10 cán bộ quản lý nhà nước và 20 cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và hoạt động đầu tư tài chính. Tác giả phân tích sáu nhóm hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: kinh doanh bảo hiểm gốc và tái bảo hiểm; đề phòng và hạn chế tổn thất; giám định tổn thất; đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường và yêu cầu người thứ ba bồi hoàn; quản lý quỹ và đầu tư vốn; các hoạt động khác theo luật định.

Luận án chỉ ra năm đặc thù hoạt động chi phối trực tiếp đến hoạt động đầu tư:

  1. Đặc thù sản phẩm: Sản phẩm bảo hiểm mang tính vô hình, người mua không mong muốn biến cố xảy ra để nhận bồi thường; phí bảo hiểm được xác định dựa trên xác suất rủi ro, điều kiện bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, thời hạn và lãi suất chiết khấu đầu tư.
  2. Tính chất hoạt động kinh doanh: Bảo hiểm phi nhân thọ thuần túy mang tính chất rủi ro, không có tính tích lũy tiết kiệm như bảo hiểm nhân thọ; vận hành theo kỹ thuật phân chia và nguyên tắc bồi thường hàng năm, kết quả thu chi được phân bổ trọn vẹn trong năm tài chính.
  3. Đặc thù quỹ dự phòng nghiệp vụ: Bao gồm ba quỹ thành phần là dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết và dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất. Quỹ này được xem là một khoản nợ ngắn hạn phát sinh chi phí vốn ẩn tương đương giá trị thị trường của nghĩa vụ bồi thường.
  4. Yêu cầu nghiêm ngặt về khả năng thanh toán: Doanh nghiệp phải tuân thủ mức vốn chủ sở hữu tối thiểu và kiểm soát biên khả năng thanh toán theo quy định để bù đắp các biến động bất thường ngoài dự tính.
  5. Yêu cầu đa dạng hóa danh mục bảo hiểm: Thông qua cơ chế đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm để phân tán rủi ro trên quy mô toàn thị trường, tạo nền tảng thu thập thông tin đa ngành phục vụ việc phân bổ danh mục đầu tư cân bằng.

Về cấu trúc tài chính, luận án chỉ ra sự khác biệt lớn về tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu giữa bảo hiểm phi nhân thọ và nhân thọ từ thống kê quốc tế: tại Hoa Kỳ, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp phi nhân thọ là 19,3% (trong khi nhân thọ là 69,08%); tại Châu Âu là 23,64% (nhân thọ là 55,68%); tại Trung Quốc là 19% (nhân thọ là 45%). Như vậy, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ quốc tế cao gấp khoảng 5 lần nợ, phản ánh yêu cầu vốn tự có rất cao để bảo đảm khả năng thanh toán cho các hợp đồng ngắn hạn biến động lớn.

Hoạt động đầu tư có trách nhiệm tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp ba nhóm rủi ro: rủi ro kỹ thuật (do định phí bảo hiểm quá thấp để cạnh tranh), rủi ro đầu tư tài chính và rủi ro kinh doanh (nguy cơ mất khả năng chi trả). Do đó, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải tuân thủ nghiêm ngặt ba nguyên tắc: nguyên tắc an toàn (đa dạng hóa danh mục, tuân thủ hạn mức danh mục rủi ro của Nhà nước), nguyên tắc sinh lời (tỷ suất sinh lời tối thiểu phải bù đắp lãi suất chiết khấu định phí và tỷ suất sinh lời yêu cầu của vốn chủ sở hữu tính theo CAPM với hệ số bêta xấp xỉ 1) và nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên (ưu tiên đầu tư ngắn hạn, tiền gửi ngân hàng để đáp ứng yêu cầu bồi thường trong năm).

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM

Chương 2 tập trung phân tích số liệu thực nghiệm của toàn bộ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011. Tác giả khái quát quá trình phát triển thị trường thông qua thị phần doanh thu phí bảo hiểm, tốc độ tăng trưởng doanh thu phí gốc theo từng nghiệp vụ (xe cơ giới, tài sản, hàng hải, con người phi nhân thọ) và tỷ trọng doanh thu phí của các doanh nghiệp bảo hiểm lớn dẫn đầu thị trường.

Thực trạng huy động vốn đầu tư được phân tích qua biến động của hai nguồn vốn cơ bản:

  • Nguồn vốn chủ sở hữu: Được đối chiếu với các chỉ tiêu an toàn tài chính, tốc độ tăng vốn và tỷ lệ đáp ứng biên khả năng thanh toán tối thiểu.
  • Nguồn quỹ dự phòng nghiệp vụ: Luận án phân tích tổng quy mô dự phòng giai đoạn 2007 - 2011, mức độ trích lập dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng bồi thường khiếu nại chưa giải quyết và biến động của tỷ lệ dự phòng dao động lớn trên doanh thu phí bảo hiểm.

Về quy mô và cơ cấu danh mục đầu tư tài chính: Luận án tổng hợp tổng số vốn đầu tư giai đoạn 2007 - 2011, tỷ trọng phân bổ giữa đầu tư ngắn hạn và dài hạn, cơ cấu danh mục theo từng nhóm tài sản phân chia theo mức độ rủi ro do Bộ Tài chính quy định (tiền gửi tổ chức tín dụng, trái phiếu chính phủ, cổ phiếu, kinh doanh bất động sản, cho vay và góp vốn liên doanh). Dữ liệu cho thấy danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam tập trung tỷ trọng rất lớn vào các tài sản có tính thanh khoản cao và rủi ro thấp là tiền gửi ngân hàng và trái phiếu, trong khi tỷ trọng đầu tư vào bất động sản và cổ phiếu biến động mạnh theo chu kỳ thị trường tài chính.

Về đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính: Chương 2 tính toán và so sánh các chỉ tiêu tài chính then chốt:

  • Hiệu suất sử dụng vốn theo doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính (HSSDVĐT).
  • Tỷ suất lợi nhuận theo tổng vốn từ hoạt động đầu tư tài chính (TSLNTTVĐT).
  • Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính.
  • Tương quan giữa tỷ lệ bồi thường thực tế, tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tỷ trọng lợi nhuận đầu tư đóng góp trong 1 tỷ đồng lợi nhuận của doanh nghiệp.
  • Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn (KNTTNH) và biên khả năng thanh toán theo quy định hiện hành.

Phần đánh giá chỉ ra các hạn chế căn bản: Cơ cấu danh mục đầu tư còn mất cân đối khi phụ thuộc quá lớn vào lãi suất tiền gửi ngân hàng; danh mục đầu tư chưa gắn kết chặt chẽ với cơ cấu kỳ hạn của các cam kết bồi thường; hiệu suất sử dụng vốn đầu tư có sự phân hóa mạnh giữa các nhóm doanh nghiệp có quy mô vốn khác nhau; khả năng sinh lời từ kinh doanh bảo hiểm gốc thường xuyên ở mức thấp hoặc hòa vốn, khiến toàn bộ lợi nhuận và nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp bị lệ thuộc nặng nề vào kết quả đầu tư tài chính. Nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu hụt các công cụ tài chính trung và dài hạn an toàn trên thị trường vốn, năng lực quản trị rủi ro danh mục đầu tư của các doanh nghiệp còn ở mức sơ khai, và việc áp dụng mô hình định lượng quản trị tài sản - nợ (ALM) chưa được thực hiện bài bản.

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ phân tích cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam và ngành bảo hiểm giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2008. Tác giả xác lập định hướng phát triển thị trường bảo hiểm nói chung và định hướng đầu tư tài chính cho khối phi nhân thọ nói riêng, đặt trọng tâm vào việc duy trì sự cân bằng giữa tăng trưởng quy mô đầu tư và bảo đảm an toàn khả năng chi trả.

Hệ thống giải pháp được cấu trúc thành hai nhóm:

Nhóm giải pháp vi mô (từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ):

  • Hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản lý hoạt động đầu tư: Xây dựng cơ chế ra quyết định độc lập giữa bộ phận phân tích đầu tư và bộ phận quản lý rủi ro; xem xét chuyển đổi mô hình từ phòng đầu tư trực thuộc sang công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp khi quy mô vốn đủ lớn.
  • Ứng dụng các mô hình định lượng trong quản trị danh mục và kiểm soát rủi ro: Đưa mô hình VaR vào xác định tổn thất tối đa của danh mục đầu tư và danh mục bồi thường; tối ưu hóa danh mục theo mô hình Markowitz có điều kiện ràng buộc bởi các hạn mức của Bộ Tài chính.
  • Cơ cấu lại danh mục tài sản đầu tư: Xác lập tỷ lệ đầu tư ngắn hạn (TLĐTNH) và đầu tư dài hạn tương thích với lưu chuyển tiền tệ của hoạt động bồi thường; kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ đầu tư vào bất động sản (TLBĐS) và chứng khoán rủi ro.
  • Nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc: Cải tiến kỹ thuật định phí bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro kỹ thuật, đảm bảo phí bảo hiểm trang trải được chi phí bồi thường bình quân nhằm giảm áp lực bù lỗ lên hoạt động đầu tư.

Nhóm giải pháp vĩ mô (từ phía cơ quan quản lý Nhà nước):

  • Hoàn thiện khung khổ pháp lý về đầu tư bảo hiểm: Rà soát, điều chỉnh tỷ lệ đầu tư tối đa vào các danh mục tài sản phù hợp với sự phát triển của thị trường tài chính; từng bước chuyển dịch cơ chế giám sát từ biên khả năng thanh toán tối thiểu cố định sang mô hình vốn dựa trên rủi ro (RBC) và tiếp cận các nguyên tắc của Solvency II.
  • Phát triển các định chế và công cụ hỗ trợ trên thị trường tài chính: Phát triển thị trường trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp có xếp hạng tín nhiệm; đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán có thu nhập cố định để doanh nghiệp bảo hiểm có thêm kênh đầu tư an toàn.
  • Tăng cường công tác thanh tra, giám sát an toàn tài chính: Giám sát chặt chẽ việc trích lập các quỹ dự phòng nghiệp vụ, đặc biệt là dự phòng dao động lớn về tổn thất và kiểm soát các giao dịch đầu tư ủy thác, góp vốn liên doanh.

Chương 3 kết thúc bằng việc xây dựng lộ trình thực hiện các giải pháp phân kỳ theo từng giai đoạn cụ thể nhằm đảm bảo tính khả thi trong áp dụng thực tế.


Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Luận giải có hệ thống về hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ dựa trên việc tích hợp đồng thời ba nguyên tắc: an toàn, sinh lời và đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên.
  • Làm rõ bản chất kinh tế của quỹ dự phòng nghiệp vụ như một khoản nợ ngắn hạn đặc thù mang chi phí vốn ẩn, từ đó xác lập mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa vốn chủ sở hữu, quỹ dự phòng nghiệp vụ và danh mục đầu tư tài chính theo chuẩn mực giám sát Solvency.
  • Xác định rằng để hoạt động đầu tư đạt hiệu quả, doanh nghiệp không chỉ tối đa hóa lợi nhuận mà phải đạt được mức tỷ suất sinh lời tối thiểu đủ để bù đắp tỷ suất chiết khấu trong định phí kỹ thuật và chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu tính toán qua mô hình CAPM.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống hóa chuỗi số liệu thực nghiệm giai đoạn 2007 - 2011 về quy mô vốn, cơ cấu danh mục đầu tư và các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.
  • Nhận diện và lượng hóa mối quan hệ giữa các chỉ tiêu hiệu quả (HSSDVĐT, TSLNTTVĐT, KNSL, KNTTNH) với các nhân tố quy mô vốn, tỷ lệ đầu tư ngắn hạn, tỷ lệ đầu tư bất động sản, dự phòng nghiệp vụ và trả trước dài hạn thông qua mô hình kinh tế lượng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ cấp độ vi mô (quản trị nội bộ doanh nghiệp) đến cấp độ vĩ mô (chính sách quản lý nhà nước) kèm lộ trình cụ thể để nâng cao hiệu quả đầu tư và năng lực thanh toán cho toàn ngành bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án gắn liền với phạm vi nghiên cứu được công bố:

  • Khung thời gian nghiên cứu thực nghiệm giới hạn trong giai đoạn 5 năm (2007 - 2011), là giai đoạn thị trường tài chính Việt Nam chịu tác động mạnh từ biến động kinh tế vĩ mô và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, do đó tính ổn định dài hạn của các hệ số hồi quy cần được kiểm chứng thêm.
  • Về phạm vi nội dung, luận án chỉ tập trung vào mảng bảo hiểm phi nhân thọ và hoạt động đầu tư tài chính, chưa phân tích so sánh sâu với hiệu quả đầu tư của khối bảo hiểm nhân thọ hoặc các hình thức đầu tư trực tiếp ngoài ngành tài chính.
  • Mẫu khảo sát dữ liệu sơ cấp dừng lại ở 30 đối tượng phỏng vấn sâu (10 nhà quản lý nhà nước và 20 nhà quản trị doanh nghiệp), chưa thực hiện khảo sát diện rộng bằng bảng hỏi định lượng chuẩn hóa trên toàn bộ cán bộ nghiệp vụ đầu tư.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ văn bản:

  • Mở rộng chuỗi số liệu thời gian sang các giai đoạn tiếp theo để đánh giá tác động của việc tái cấu trúc thị trường tài chính và các sửa đổi bổ sung của Luật Kinh doanh bảo hiểm.
  • Nghiên cứu mô hình kiểm tra sức chịu đựng (stress testing) đối với danh mục đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khi chịu các cú sốc đồng thời về tổn thất bồi thường thảm họa và biến động lãi suất thị trường.
  • Xây dựng mô hình định lượng chi tiết cho việc chuyển đổi hệ thống giám sát khả năng thanh toán tại Việt Nam từ Thông tư 156 sang mô hình vốn dựa trên rủi ro (RBC) và Solvency II.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Bảo hiểm, Tài chính - Ngân hàng: Luận án cung cấp khung phương pháp luận kết hợp giữa khoa học tính toán bảo hiểm (actuarial science) và lý thuyết tài chính doanh nghiệp. Đáng tham khảo nhất là Chương 1 với hệ thống hóa công thức định phí, mô hình hóa cấu trúc vốn Nợ/VCSH và phương pháp vận dụng CAPM, VaR trong quản trị doanh nghiệp bảo hiểm.
  • Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: Cung cấp cơ sở thực tiễn tại Chương 2 và hệ thống giải pháp vi mô tại Chương 3 về việc phân bổ cơ cấu danh mục tài sản đầu tư, phương thức quản lý quỹ dự phòng nghiệp vụ và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư gắn chặt với kiểm soát biên thanh toán.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Cục Quản lý và Giám sát Bảo hiểm): Cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về tác động của các quy định hạn mức đầu tư và biên khả năng thanh toán tối thiểu, làm cơ sở khoa học cho việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật và lộ trình áp dụng chuẩn mực an toàn vốn Solvency/RBC tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao chu trình kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được gọi là chu trình kinh doanh đảo ngược và điều này tạo điều kiện gì cho hoạt động đầu tư?
Chu trình kinh doanh bảo hiểm được gọi là đảo ngược vì doanh nghiệp có doanh thu trước (thu phí bảo hiểm ngay khi giao kết hợp đồng) và thực hiện chi phí sau (chỉ bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm khi rủi ro phát sinh). Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng (thường là một năm), khoản phí thu được chưa sử dụng hết ngay để bồi thường sẽ hình thành nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi (quỹ dự phòng nghiệp vụ), cho phép doanh nghiệp đưa vào hoạt động đầu tư tài chính để tìm kiếm lợi nhuận trước khi phát sinh nghĩa vụ chi trả.

2. Ba nguyên tắc chi phối hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được tác giả xác định là gì?
Ba nguyên tắc cốt lõi gồm:

  • Nguyên tắc an toàn: Bảo toàn vốn thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư và tuân thủ các quy định giới hạn tỷ lệ đầu tư tối đa của Nhà nước đối với các tài sản có rủi ro cao.
  • Nguyên tắc sinh lời: Đạt tỷ suất lợi nhuận tối thiểu đủ để bù đắp tỷ suất chiết khấu trong định phí bảo hiểm, bù đắp chi phí vốn chủ sở hữu (xác định theo CAPM) và phòng ngừa rủi ro kỹ thuật.
  • Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên: Luôn duy trì tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao (tiền gửi ngân hàng, trái phiếu ngắn hạn) tương thích với nhu cầu bồi thường thường xuyên trong năm tài chính.

3. Khảo sát quốc tế trong luận án cho thấy tỷ lệ Nợ trên Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khác biệt như thế nào so với doanh nghiệp nhân thọ?
Theo số liệu tác giả trích dẫn từ các thị trường phát triển, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu trung bình của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Hoa Kỳ là 19,3%, tại Châu Âu là 23,64%, tại Trung Quốc là 19% (vốn chủ sở hữu cao gấp khoảng 5 lần nợ). Trong khi đó, ở các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao hơn rất nhiều: Hoa Kỳ là 69,08%, Châu Âu là 55,68%, Trung Quốc là 45% (vốn chủ sở hữu chỉ gấp khoảng 1,5 đến 2 lần nợ). Điều này phản ánh đặc thù hợp đồng phi nhân thọ có mức độ bất định bồi thường cao hơn nên cần lượng vốn chủ sở hữu tự có lớn hơn để bảo đảm khả năng thanh toán.

4. Mô hình kinh tế lượng của luận án sử dụng các biến số cụ thể nào để phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư?
Mô hình sử dụng bốn biến phụ thuộc đo lường hiệu quả gồm: Hiệu suất sử dụng vốn đầu tư (HSSDVĐT), Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư (TSLNTTVĐT), Khả năng sinh lời (KNSL) và Khả năng thanh toán ngắn hạn (KNTTNH). Các biến độc lập đại diện cho các nhân tố ảnh hưởng gồm sáu chỉ tiêu: Tỷ lệ đầu tư ngắn hạn (TLĐTNH), Tỷ lệ đầu tư bất động sản (TLBĐS), Tổng vốn đầu tư (TVĐT), Trả trước dài hạn (TTDH), Tỷ lệ dự phòng nghiệp vụ (TLDPNV) và Vốn chủ sở hữu (VCSH).

5. Luận án đã thu thập và sử dụng những nguồn dữ liệu thực nghiệm nào?
Luận án kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp: Dữ liệu thứ cấp gồm báo cáo thị trường của Bộ Tài chính, báo cáo thường niên của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ giai đoạn 2007 - 2011; dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu 30 chuyên gia, bao gồm 10 cán bộ quản lý nhà nước và 20 cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của Trịnh Chi Mai (2013) là công trình nghiên cứu hệ thống về hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, tác giả đã làm rõ mối liên kết bản chất giữa hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động đầu tư tài chính thông qua ba nguyên tắc an toàn, sinh lời và khả năng thanh toán thường xuyên. Các phân tích thực trạng và mô hình kinh tế lượng trong luận án đã chỉ rõ sự mất cân đối trong danh mục tài sản và áp lực bù lỗ bồi thường của hoạt động đầu tư, làm cơ sở đề xuất hệ thống giải pháp phân tầng ở cấp độ vi mô và vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và củng cố năng lực tài chính cho thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.