CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ðỘNG ðẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Tổng quan về doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 1. Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Dựa vào ñiều 3 của Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam năm 2000, doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp ñược thành lập, tổ chức và hoạt ñộng theo quy ñịnh của luật này và các quy ñịnh khác của pháp luật có liên quan ñể kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm [60] Còn dựa theo luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp bảo hiểm ñược hiểu là doanh nghiệp ñược thành lập, tổ chức và hoạt ñộng theo quy ñịnh của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy ñịnh khác có liên quan ñến kinh doanh bảo hiểm [42], [61]. Nếu xét theo khía cạnh mục tiêu hoạt ñộng, doanh nghiệp bảo hiểm ñược chia ra làm hai loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm thương mại) và tổ chức bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội): Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm ñược hiểu là doanh nghiệp ñược thành lập, tổ chức và hoạt ñộng nhằm mục ñích sinh lợi, theo ñó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người ñược bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm ñóng phí bảo hiểm ñể doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người ñược bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Mặc dù các khái niệm ñược diễn ñạt khác nhau, nhưng ta có thể thấy ñiểm chung ñó là: doanh nghiệp bảo hiểm là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ (chuyên cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhằm thỏa mãn nhu cầu bảo ñảm về mặt tài chính trước các rủi ro cho bên mua bảo hiểm); doanh nghiệp bảo hiểm có thể hoạt ñộng vì mục ñích sinh lời (loại hình bảo hiểm thương mại) hoặc vì mục tiêu xã hội (loại hình bảo hiểm xã hội). Trong ñó, doanh nghiệp bảo hiểm thương mại ñược chia làm 2 loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: là loại hình doanh nghiệp chuyên cung cấp các sản phẩm bảo hiểm ñảm bảo cho các rủi ro liên quan ñến tài sản, trách nhiệm dân sự và sức khỏe, tính mạng, khả năng lao ñộng của con người [43]. Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: là loại hình doanh nghiệp chuyên cung cấp các sản phẩm bảo hiểm ñảm bảo cho các rủi ro có liên quan ñến tuổi thọ của con người [43]. Như vậy, ñiểm khác biệt cơ bản giữa doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng so với các doanh nghiệp hoạt ñộng trong lĩnh vực kinh doanh khác ñó là: doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp chuyên kinh doanh rủi ro, nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm sẽ nhận sự chuyển giao rủi ro từ phía bên mua bảo hiểm và sẽ cam kết bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra (với ñiều kiện bên mua bảo hiểm ñóng phí ñầy ñủ, ñúng hạn như ñã thỏa thuận trong hợp ñồng bảo hiểm).
Luan van 16 Và sự khác biệt lớn nữa chính là sản phẩm kinh doanh. Các sản phẩm (hàng hóa) thông thường khác (dùng trong sản xuất và tiêu dùng), người mua có thể nhìn, cầm nắm hay ñánh giá ngay ñược mẫu mã, chất lượng hay giá cả của sản phẩm. Nhưng ñối với sản phẩm bảo hiểm, sau khi mua về, người mua chỉ có thể nhận ñược hợp ñồng bảo hiểm có sự cam kết của DNBH là ñảm bảo ổn ñịnh tài chính trước các rủi ro, do vậy, người mua sản phẩm bảo hiểm không thể nhìn thấy hay ñịnh dạng ñược nó. Ngoài ra, sản phẩm bảo hiểm còn là sản phẩm mà người mua không mong muốn ñược hưởng do sản phẩm này luôn gắn liền với rủi ro.
Tuy nhiên, khi rủi ro xảy ra thì bên mua bảo hiểm mới thấy ñược ý nghĩa của việc mua bảo hiểm thông qua các khoản bồi thường hay chi trả nhận ñược từ phía DNBH. ðối với loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, trong một năm tài chính, các DNBH có thể ký kết nhiều loại HðBH cho nhiều người mua khác nhau và rủi ro có thể chỉ xảy ra với một số người mua theo một tỷ lệ nào ñó. Tỷ lệ này thường gọi là xác suất xảy ra rủi ro, thông thường mức xác suất này không lớn. Chính vì vậy, trong HðBH sẽ quy ñịnh các mức bồi thường khác nhau ứng với các mức rủi ro khác nhau.
Trong thời hạn HðBH, các DNBH phi nhân thọ sẽ dùng số phí thu ñược của tất cả người mua cùng loại HðBH ñể chi trả, bồi thường cho một số ít người gặp rủi ro hay sự kiện bảo hiểm. Khi càng có nhiều sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ ñáp ứng ñược nhiều nhu cầu của bên mua thì quỹ tài chính của các DNBH phi nhân thọ càng lớn và càng dễ dàng ñảm bảo cam kết với khách hang, qua ñó, ñảm bảo ổn ñịnh tài chính cho bên mua bảo hiểm trước các rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra. Như vậy, có thể khẳng ñịnh các DNBH phi nhân thọ ñóng vai trò quan trọng trong việc chia sẻ rủi ro của các tác nhân hoạt ñộng trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế và thông qua hoạt ñộng bảo hiểm các loại rủi ro trong hoạt ñộng của các DN khác ñã ñược giảm thiểu do có sự hỗ trợ về tài chính khi tổn thất xảy ra. Các hoạt ñộng chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Hoạt ñộng chủ yếu của các DNBH phi nhân thọ là hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm, ngoài ra còn có các hoạt ñộng khác liên quan hỗ trợ ñến hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm [61].
Cụ thể là: ♦ Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm ♦ ðề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất ♦ Giám ñịnh tổn thất ♦ ðại lý giám ñịnh tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn ♦ Quản lý quỹ và ñầu tư vốn ♦ Các hoạt ñộng khác theo quy ñịnh của pháp luật. Hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm Trong hoạt ñộng bảo hiểm của DNBH phi nhân thọ, kinh doanh bảo hiểm gốc là hoạt ñộng chính. Các DNBH phi nhân thọ sẽ chấp nhận những rủi ro của bên mua bảo hiểm trên cơ sở bên mua bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm ñúng như cam kết. Mức phí sẽ ñược hai bên thoả thuận trên cơ sở loại sản phẩm bảo hiểm hay những ñiều kiện, ñiều khoản, ñiều khoản bổ sung trong hợp ñồng bảo hiểm.
Khi có tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm thì DNBH phi nhân thọ sẽ bồi thường cho bên mua bảo hiểm theo ñúng cam kết ghi trong HðBH. Ngoài hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm gốc, ñể phân tán rủi ro trong hoạt ñộng kinh doanh của mình, các DNBH còn thực hiện hoạt ñộng tái bảo hiểm. Với cơ chế chuyển giao một phần rủi ro trên cơ sở chuyển giao một phần phí bảo hiểm (thu ñược từ phía bên mua bảo hiểm) cho các DNBH khác. Như vậy, thông qua hoạt ñộng tái bảo hiểm, chi phí bồi thường rủi ro (ñược bảo hiểm) sẽ ñược phân tán trong toàn thị trường bảo hiểm trong nước và trên thế Luan van 18 giới, khi ñó hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm của DN sẽ ổn ñịnh và bền vững qua ñó bên mua bảo hiểm luôn ñược ñảm bảo quyền lợi của mình.
Hoạt ñộng ñầu tư Do ñặc ñiểm kinh doanh bảo hiểm là phí bảo hiểm thu trước còn trách nhiệm cam kết trong hợp ñồng ñược thực hiện sau, chính vì vậy, nó tạo ra tính “nhàn rỗi” ñối với các khoản phí mà doanh nghiệp thu ñược từ phí khách hàng. ðây chính là ñiều kiện tiền ñề ñể DNBH nói chung và DNBH phi nhân thọ nói riêng có thể thực hiện hoạt ñộng ñầu tư nhằm mục ñích kiếm lời. Theo quy ñịnh của pháp luật, một DNBH có thể thực hiện ñầu tư vào nhiều hình thức, chẳng hạn như gửi tiền vào các tổ chức tín dụng; ñầu tư trái phiếu, cổ phiếu; ñầu tư bất ñộng sản; cho vay; góp vốn liên doanh. Mỗi một loại hình DNBH khác nhau sẽ có những quy ñịnh khác nhau về tỷ lệ ñầu tư tối ña cho từng hình thức ñầu tư nhằm mục ñích bảo toàn quỹ bảo hiểm cũng như ñảm bảo quyền lợi cho bên mua bảo hiểm.
Hoạt ñộng khác Ngoài hai hoạt ñộng chính là kinh doanh bảo hiểm (gốc, tái bảo hiểm) và ñầu tư tài chính, các DNBH phi nhân thọ còn thực hiện các dịch vụ ñại lý như giám ñịnh tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý tài sản bị tổn thất toàn bộ. Trong hoạt ñộng này, DNBH phi nhân thọ nhận sự uỷ quyền của các cá nhân, tổ chức khác thực hiện các dịch vụ giám ñịnh nhằm xác ñịnh nguyên nhân và mức ñộ tổn thất; hay xét giải quyết bồi thường; yêu cầu người thứ ba bồi hoàn hoặc xử lý tài sản bị tổn thất toàn bộ thay cho các DNBH khác. Thông qua hoạt ñộng này, DNBH phi nhân thọ sẽ nhận ñược một khoản phí ñể làm tăng thêm thu nhập doanh nghiệp. Cũng nhờ những hoạt ñộng này mà chất lượng dịch vụ của DN không ngừng ñược cải thiện, uy tín và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vì thế cũng ñược nâng cao.
Luan van 19 Từ những phân tích trên ñã cho thấy, các hoạt ñộng của DNBH phi nhân thọ có mối quan hệ hữu cơ, tác ñộng qua lại và thúc ñẩy lẫn nhau. Bởi khi các dịch vụ ñại lý giám ñịnh tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn ñược thực hiện tốt, ñảm bảo chất lượng sẽ hỗ trợ cho hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm diễn ra thuận lợi và ñáp ứng yêu cầu của khách hàng. Trong khi ñó, hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm lại thu hút vốn cho hoạt ñộng ñầu tư, ñảm bảo cho hoạt ñộng ñầu tư có nguồn vốn lớn ñể hưởng lợi thế ñầu tư và thực hiện phân tán rủi ro nhờ ña dạng hóa danh mục ñầu tư. Bên cạnh ñó, do hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nên lợi nhuận thu ñược từ hoạt ñộng này thường rất ít và thậm chí là lỗ.
Chính vì vậy, lợi nhuận từ hoạt ñộng ñầu tư ñược 19hem19à nguồn thu quan trọng, ñảm bảo sự ổn ñịnh và phát triển của các DNBH. Như vậy, ñể trở thành một DNBH lớn, có uy tín trên thị trường, các DNBH cần quan tâm ñúng mức tới các hoạt ñộng này ñể chúng hỗ trợ, bổ sung và thúc ñẩy lẫn nhau.