CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ ĐẤU THẦU 1. Cơ sở lý luận về đấu thầu và hiệu quả đấu thầu 1. Tổng quan về đấu thầu 1. Các khái niệm liên quan đến đấu thầu Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu mua sắm hàng hoá, dịch vụ tư vấn, đầu tư xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
Trình tự thực hiện đấu thầu gồm các bước chuẩn bị đấu thầu, tổ chức đấu thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, đánh giá hồ sơ đề xuất, thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu, thông báo kết quả đấu thầu, thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng. Bên mời thầu là chủ đầu tư, thủ trưởng đơn vị mua sắm hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư, chủ tài khoản đơn vị dự toán sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật. Gói thầu là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt gói thầu là toàn bộ dự án; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần đối với mua sắm thường xuyên. Việc phân chia gói thầu phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Hồ sơ mời sơ tuyển là toàn bộ tài liệu bao gồm các yêu cầu về năng lực và kinh nghiệm đối với nhà thầu làm căn cứ pháp lý để bên mời thầu lựa chọn danh sách nhà thầu mời tham gia đấu thầu. Hồ sơ dự sơ tuyển là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời sơ tuyển. Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu; là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng. 4 Luan van Hồ sơ dự thầu là toàn bộ tài liệu, mẫu biểu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu.
Giá gói thầu là giá trị gói thầu (không bao gồm dự phòng) được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiện hành khác. Giá đánh giá là giá được xác định trên cùng một mặt bằng về các yếu tố kỹ thuật, tài chính, thương mại và được dùng để so sánh, xếp hạng hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp hoặc gói thầu EPC. Giá đánh giá bao gồm giá dự thầu do nhà thầu đề xuất để thực hiện gói thầu sau khi đã sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch, cộng với các chi phí cần thiết để vận hành, bảo dưỡng và các chi phí khác liên quan đến tiến độ, chất lượng, nguồn gốc của hàng hóa hoặc công trình thuộc gói thầu trong suốt thời gian sử dụng. Hợp đồng là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu được lựa chọn trên cơ sở thoả thuận giữa các bên nhưng phải phù hợp với quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu và các quy định khác có liên quan theo quy định của pháp luật.
Vai trò của đấu thầu a. Vai trò thứ nhất: hoạt động đấu thầu mạng lại lợi ích cho bên mời thầu - người mua. Đấu thầu giúp cho người mua mua được hàng hoá, dịch vụ mình cần một cách tốt nhất hay nói cách khác là sử dụng đồng tiền của mình một cách hiệu quả, tối ưu nhất. Chủ đầu tư tiết kiệm được chi phí tìm hiểu thông tin về sản phẩm và người cung cấp thông qua việc đăng tải thông tin yêu cầu của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Vì vậy, thông qua hình thức tổ chức đấu thầu, chủ đầu tư đạt được mục đích của mình khi thực hiện đầu tư là nhận được kết quả lớn hơn những gì mình bỏ ra và khai thác được tối đa kết quả đầu tư. Không những thế, trong một dự án, nguồn vốn đầu tư thường là của Nhà nước hoặc một tổ chức tài chính nào đó cung cấp hoặc 5 Luan van cho vay nên việc quản lý nguồn vốn và lựa chọn hàng hóa, dịch vụ cho dự án luôn được đặt lên hàng đầu, đòi hỏi phải có sự công khai, minh bạch. Đấu thầu tạo điều kiện cho những người bán được cạnh tranh một cách công bằng, công khai, minh bạch. Điều này được thực hiện thông qua thông qua một nguyên tắc lựa chọn công khai, rộng rãi nên tránh được tiêu cực và giúp chủ đầu tư yên tâm khi lựa chọn nhà thầu.
Ngoài ra bên mua còn có điều kiện phát hiện và tiếp cận được với những người cung cấp mới. Bằng cách tổ chức đấu thầu cạnh tranh rộng rãi, bên mời thầu có thể tìm được những nhà thầu cung cấp tiềm năng tốt hơn những đối tác truyền thông, giúp chủ đầu tư tiết kiệm chi phí mua sắm hàng hoá, dịch vụ. Tổ chức đấu thầu là một hình thức thể hiện quyền lực và trách nhiệm của người mua, vì vậy có thể làm tăng uy tín của bên mời thầu trong môi trường kinh doanh. Nếu thực hiện đấu thầu một cách nghiêm túc sẽ tạo được sự tin tưởng đối với nhà thầu do đó nhà thầu có thể tham gia một cách nghiêm túc và với số lượng ngày càng đông đảo b.
Vai trò thứ hai: đấu thầu mang lại lợi ích cho bên dự thầu Nếu mục đích của bên mời thầu khi tổ chức đấu thầu là mua được sản phẩm đáp ứng yêu cầu với giá hợp lý nhất thì mục đích của nhà thầu là bán được sản phẩm với giá mình muốn với số lượng lớn và với giá cả mong muốn. Đấu thầu cũng là động lực để nhà thầu phải phát huy tối đa khả năng cạnh tranh của mình bằng cách năng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới hay hạ giá sản phẩm. Đối với nhà cung cấp mới hoặc chưa có tiếng tăm trên thị trường thì đấu thầu là cách giúp họ tự khẳng định mình và sự thành công sẽ mang lại cho các nhà thầu cơ hội để phát triển. Đây cũng là một hình thức xây dựng thương hiệu.
Thông thường những gói thầu, dự án được đưa ra đấu thầu là những gói thầu, dự án lớn, nhiều người biết tới, việc trúng thầu là một cách quảng cáo tốt nhất, tạo niềm tin cho khách hàng khác. Một tác dụng khác của đấu thầu đối với các nhà thầu là cơ hội làm quen với các nhà thầu khác, 6 Luan van từ đó có thể học hỏi lẫn nhau hoặc nảy sinh những mối quan hệ hợp tác để cùng phát triển trong tương lai. Vai trò thứ ba: đấu thầu mang lại lợi ích cho nền kinh tế- xã hội. Xét về kinh tế - xã hội, đấu thầu đã đem lại lợi ích cho nhiều lĩnh vực, đó là: - Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin – cho “sang cơ chế cạnh tranh, thi đua.
Điều này chúng ta có được bởi đặc tính nổi bật nhất của đấu thầu chính là cạnh tranh để đem lại hiệu quả cao nhất. - Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những thủ tục hành chính nặng nề cản trở sự năng động, sáng tạo. - Tạo động lực cho sự phát triển nhờ tăng cường sự công khai, công bằng bình đẳng, hiệu quả và thúc đẩy cạnh tranh các hoạt động mua sắm bằng nguồn vốn của Nhà nước cho các công trình công cộng. - Lành mạnh hoá các quan hệ xã hội nhờ thực hiện các hoạt động công theo đúng luật pháp của Nhà nước.
Mục tiêu và nguyên tắc của đấu thầu Để thực hiện được vai trò của đấu thầu nêu trên, trong hoạt động đấu thầu có 4 mục tiêu và nguyên tắc cơ bản, quan trọng mà đấu thầu phải tuân thủ và hướng đến đó là: cạnh tranh, minh bạch, công bằng và hiệu quả kinh tế. Tính cạnh tranh “Tính cạnh tranh” là một nguyên tắc cơ bản trong quá trình lựa chọn nhà thầu. Nguyên tắc này xuất hiện là do gói thầu mua sắm công về cơ bản thường sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, được đóng góp từ tiền thuế của nhân dân. Do đó, không cá nhân hay tổ chức nào được phép thao túng quá trình lựa chọn nhà thầu để làm lợi cho riêng mình hay nói cách khác, mọi cá nhân hay tổ chức đáp ứng yêu cầu của gói thầu đều được phép nộp hồ sơ dự thầu.
Tính minh bạch 7 Luan van Minh bạch trong đấu thầu vừa là một trong những mục tiêu, vừa là một trong những nguyên tắc cơ bản của quá trình lựa chọn nhà thầu. Tính minh bạch trong đấu thầu được thể hiện ở năm khía cạnh khác nhau. - Thứ nhất, công khai thông tin về gói thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng để các nhà thầu có thể tiếp cận và tham gia dự thầu, tùy thuộc vào hình thức lựa chọn nhà thầu áp dụng với gói thầu đó. - Thứ hai, công khai các quy định về đấu thầu, bao gồm cả việc đăng tải công khai các quy định chung về đấu thầu cũng như các quy định cụ thể đối với một gói thầu cụ thể.
- Thứ ba, việc đưa ra quyết định trong quá trình lựa chọn nhà thầu phải dựa trên các quy định đã được công khai, nhằm hạn chế và loại bỏ “sự tự tung, tự tác” của chủ đầu tư, bên mời thầu hay cán bộ đấu thầu. - Thứ tư, việc xác minh, kiểm tra xem các quy định, luật lệ có được thực thi đầy đủ trong quá trình lựa chọn nhà thầu hay không. - Thứ năm, các thành viên đã tham gia lập hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu thì không tham gia thẩm định các hồ sơ đó, các thành viên đã tham gia đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất thì không tham gia thẩm định kết quả sơ tuyển, kết quả lựa chọn nhà thầu, cá nhân bên mời thầu, chủ đầu tư không tham gia vào quá trình lựa chọn nhà thầu, vào tổ chuyên gia, vào tổ thẩm định đối với các gói thầu mà mình có người nhà là đại diện của nhà thầu (cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ, vợ hoặc chồng, .