CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Những vấn đề chung về lao động, nông thôn và lao động nông thôn: 1.
Khái niệm về lao động Theo C.Mác: “Lao động là hoạt động có mục đích để sáng tạo ra những giá trị sử dụng và lao động là sự kết hợp giữa sức lao động của con người và tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động”.Mác đã nói “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó bằng sức lao động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự nhiên” [15]. Theo Giáo trình kinh tế lao động: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người” [6]. Theo Bộ luật Lao động: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần của xã hội” [22]. Với những khái niệm trên, theo chúng tôi thì lao động được hiểu là hoạt động có mục đích và quan trọng nhất của con người, để tạo ra của cải vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống bản thân, gia đình và toàn xã hội.
Khái niệm độ tuổi lao động Việc quy định ĐTLĐ ở các nước trên thế giới không giống nhau. Các căn cứ để xác định ĐTLĐ là sức khỏe của người lao động, giới tính, trình độ phát triển KT-XH. Ở Vương Quốc Anh, ĐTLĐ là 15-65 tuổi đối với nam và 15-60 tuổi đối với nữ.[41]; ở Thụy Điển, ĐTLĐ là 15-63 tuổi đối với nam và 15-62 tuổi đối với nữ; ở Trung Quốc, ĐTLĐ là 15-60 tuổi đối với nam và 15-50 tuổi đối với nữ. Theo Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012: “ĐTLĐ là độ tuổi được tính từ thời điểm bắt đầu đủ tuổi lao động đến tuổi nghỉ hữu”.
Theo ghi nhận tại điểm 1 điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012 thì tuổi lao động được tính từ đủ 15 tuổi. Trong khi đó tuổi nghỉ hưu được xác định như sau: Thứ nhất, người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. Thứ hai, người lao động có trình độ CMKT cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.[22] Từ các quan điểm trên theo chúng tôi, ĐTLĐ là 15-60 tuổi đối với nam và 15- 55 tuổi đối với nữ. Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.
Khái niệm nguồn lao động Tác giả Phạm Đức Chính cho rằng: “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong ĐTLĐ theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài ĐTLĐ đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân”. Tác giả Phạm Đức Thành và Mai Quốc Chánh cho rằng: “Nguồn lao động là toàn bộ dân số trong ĐTLĐ trừ đi những người trong độ tuổi này hoàn toàn mất khả năng lao động” [5]. Với quan niệm này, nguồn lao động sẽ không bao gồm dân số ngoài ĐTLĐ đang thực tế làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Theo chúng tôi, khái niệm của tác giả Phạm Đức Chính về nguồn lao động toàn diện và đầy đủ hơn khái niệm của tác giả Phạm Đức Thành và Mai Quốc Chánh, theo khái niệm của hai tác giả này thì nguồn lao động bị hạn chế đi rất nhiều so với thực tế.
Khái niệm về lực lượng lao động Tác giả Trần Thị Kim Dung (2011), Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Hà Nội cho rằng: “LLLĐ là số người trong tuổi lao động cộng 1/2 số người lao động trên tuổi và 1/3 số người lao động dưới tuổi có khả năng lao động và nhu cầu làm việc. Người không thuộc LLLĐ là những đối tượng là học sinh, những người mất khả năng lao động, nội trợ và những người đã nghỉ làm việc vì lý do sức khoẻ, tuổi tác cao.[21] Từ những khái niệm trên, theo chúng tôi: LLLĐ là một bộ phận dân số có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. Còn nhóm người không thuộc LLLĐ cần bổ sung là bao gồm cả dân số không trong ĐTLĐ và những người trong ĐTLĐ nhưng không có khả năng, không có nhu cầu và không sẵn sàng làm việc. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 1.
Khái niệm về nông thôn Nông thôn là nói đến vùng địa lí cư trú. Nông thôn là làng mạc sống bằng sản xuất nông nghiệp, khác hẳn thành thị. Nói đúng hơn nông thôn là vùng địa lí cư trú gắn với thiên nhiên, khác hẳn thành thị, với dân cư chủ yếu là nông dân, ngành nghề chủ yếu là nông nghiệp và có lối sống riêng, văn hóa riêng.[13] Nông thôn có thể coi là khu vực địa lí nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ví dụ các cộng đồng sống dựa vào nông, lâm, ngư nghiệp.
Khái niệm này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những độ thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển.[24] Việt Nam là nước đông dân nên những quy định về các tiêu chí của một đô thị khác nhiều so với các nước khác. Quyết định số 132 - HĐBT ngày 5/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định nước ta có năm loại đô thị. Khu vực nông thôn được xác định là những khu vực nằm ngoài các vùng đô thị.
Nông thôn: Bao gồm các khu dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4000 người, mật độ dân cư ít hơn 6.000 người/km2 và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 60%, tức là tỉ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 40% trở lên. Khái niệm lao động nông thôn LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn. Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất.
Đặc điểm của lao động nông thôn Do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên chúng tôi đưa ra một số đặc điểm của người lao động nông thôn như sau: PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Một là: LĐNT có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi. Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp. Hai là: Do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo của LĐNT. Ba là: LĐNT nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động.
Bốn là: LĐNT có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác nhau. Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động. Năm là: Thu nhập của người LĐNT còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Sáu là: Trình độ của LĐNT thấp khả năng tổ chức sản xuất kém, ngay thực tế cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các ngành kinh tế khác.
Những vấn đề chung về nghề và đào tạo nghề 1. Khái niệm nghề Theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định, cho đến nay thuật ngữ “Nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây chúng tôi xin đưa ra một số khái niệm. Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa như sau: Nghề là một loại hoạt động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn.
Khái niệm nghề được định nghĩa ở Pháp: Nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của con người để từ đó tìm được phương tiện sống. Ở Anh, nghề được định nghĩa: Nghề là một công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học, nghệ thuật. Còn ở Đức, khái niệm nghề được định nghĩa: Nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó. Theo Giáo trình Kinh tế lao động: "Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kĩ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định".[5] Theo tác giả Nguyễn Hùng thì: "Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề.
Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau. Chuyên môn là một PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.