CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1.1 Khái niệm, vai trò của công tác đào tạo nghề 1.1 Khái niệm Đào tạo nghề là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động làm cho lao động trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Đây là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có hiệu quả và năng suất. Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, khái niệm đào tạo nghề có nhiều biến đổi. Trước đây đào tạo nghề được hiểu đơn thuần là truyền thụ tay nghề từ người này sang người khác; còn gọi là “truyền nghề”.
Kiểu dạy này mang đậm tính truyền thống với phương pháp chủ yếu là hành động bắt chước của người học theo người dạy. Đến nay vẫn còn một số nghề thủ công được truyền dạy theo phương pháp này. Còn theo quan niệm giáo dục dạy nghề hiện đại thì đào tạo nghề không chỉ là truyền thụ các kỹ năng, thói quen công việc mà còn là quá trình trang bị các kiến thức và kỹ năng cơ bản về khoa học kỹ thuật, giáo dục tư cách đạo đức, thái độ nghề nghiệp để người học có được nhân cách toàn diện. Theo Luật Dạy nghề (2006) nêu rõ: “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học tại các cơ sở dạy nghề nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người lao động để họ có thể tìm việc làm và tự tạo việc làm phù hợp sau khi hoàn thành khoá học” [1].
Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 có nêu: Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ 8 nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề. Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu đào tạo nghề là quá trình nâng cao năng lực của người lao động về mặt thể lực, trí lực, tâm lực đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực của nguồn nhân lực để phát triển đất nước.2 Vai trò của công tác đào tạo nghề Đào tạo nghề tạo ra một lực lượng lao động có trình độ lành nghề cao đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước. Thông qua hoạt động đào tạo nghề những kiến thức, kỹ năng phù hợp với khoa học và công nghệ mới được trang bị cho người lao động.
Đây là một sự chuẩn bị tốt nhất trước những thách thức của sự biến đổi khoa học công nghệ, không thể chuyển đổi căn bản tính chất lạc hậu của nền sản xuất xã hội sang tính chất hiện đại nếu không xây dựng được một đội ngũ lao động giữ vai trò ứng dụng khoa học công nghệ, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học - công nghệ với sản xuất. Hơn nữa, CNH - HĐH với sự thay đổi tính chất công cụ lao động theo hướng hiện đại hoá hơn, tiến tới năng suất lao động xã hội cao, điều này thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý. Đây thực sự là một thách thức đối với người lao động. Người lao động đứng trước hai khả năng: một là những người lao động không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động sẽ bị gạt ra lề của sự phát triển xã hội; hai là những người lao động đã được đào tạo nghề để có thể thích ứng được với sự phát triển không ngừng của xã hội sẽ tiếp tục lao động trước sự thay đổi và ra đời của rất nhiều ngành nghề mới.
Do vậy, đào tạo nghề phát triển sẽ rút ngắn thời gian thực hiện CNH - HĐH đất nước và là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, đẩy lùi tệ nạn xã hội. Đào tạo nghề trang bị kỹ năng nghề nghiệp cần thiết cho người lao động đáp ứng được yêu cầu sản xuất, người lao động có nhiều cơ hội việc làm và có khả năng tìm cho mình một công việc phù hợp với chuyên môn được đào tạo làm tăng tính năng động cho thị trường lao động. Đào tạo nghề tạo ra sự “cạnh tranh” xã hội và trong bối 9 cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, những người học vấn thấp, kỹ năng, tay nghề thấp hoặc không có nghề khó có thể cạnh tranh được so với những người có trình độ, có kỹ năng nghề cao.
Khi người lao động có việc làm, họ sẽ có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống và một điều quan trọng là họ không trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội. Việc làm được giải quyết, cuộc sống được nâng cao, nguồn lao động được sử dụng hợp lý, đói nghèo, tệ nạn xã hội từng bước được giải quyết.2 Ý nghĩa của đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho LĐNT cũng giúp cho những người LĐNT có khả năng áp dụng được những khoa học kỹ thuật mới, nhằm tiết kiệm chi phí đầu vào như nguyên nhiên vật liệu, nguồn vốn, chi phí hạ giá thành sản phẩm, sử dụng hợp lý các nguồn đầu vào trong sản xuất, tiết kiệm và sử dụng phù hợp nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản, ngoài ra còn bảo đảm được yêu cầu về kỹ thuật an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường xung quanh và xã hội. Đào tạo nghề cho LĐNT giúp cho LĐNT hiểu biết được thị trường sản xuất, thị trường lao động, thị trường buôn bán, nâng cao hiểu biết pháp luật, những phong tục tập quán của từng địa phương để từ đó LĐNT sẽ hiểu biết và phát huy khả năng của mình với nghề nghiệp được học. Góp phần xây dựng đất nước ngày một văn minh hiện đại đúng với mục tiêu của Đảng và Nhà nước về CNH-HĐH nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Đào tạo nghề cho LĐNT đem lại thu nhập cao cho chính bản thân họ. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, những người học vấn thấp, kỹ năng, tay nghề thấp hoặc không có nghề khó có thể cạnh tranh được so với những người có trình độ, có kỹ năng nghề cao. Khi đó, họ sẽ trở thành nhóm người “yếu thế”, phải làm những việc thu nhập thấp, thậm chí không kiếm được việc làm, trở thành người thất nghiệp dài hạn và nhận trợ cấp xã hội. Đây chính là động lực để con người đầu tư vào giáo dục- đào tạo và đào tạo nghề đồng thời có đã tác động tích cực làm cho chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên.
Nông thôn đang trong quá trình CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Muốn tiến bước trên con đường công nghiệp hoá, LĐNT cần được trang bị những kiến 10 thức hiện đại về nông nghiệp, phải có tác phong kỷ luật lao động công nghiệp, có kỹ năng nghề nghiệp cao có khả năng làm chủ được các phương tiện, máy móc, công nghệ hiện đại…Muốn đưa nền nông nghiệp nước ta trở thành nền nông nghiệp lớn, hội nhập mạnh mẽ vào thị trường thế giới, chúng ta nhất thiết phải có những người lao động kiểu mới, hiểu biết tốt về thị trường thế giới, có đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới… 1.3 Nội dung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho LĐNT được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, đào tạo nghề gồm đào tạo tay nghề và những kiến thức tổng hợp. Vì vậy, đào tạo nghề theo nghĩa rộng bao hàm cả đào tạo văn hóa (làm nền tảng cho đào tạo nghề); đào tạo nghề nghiệp (nội dung chính là đào tạo chuyên môn theo từng nghề nghiệp của người lao động, hoạt động chính của người lao động ở chuyên môn này); đào tạo kiến thức về kinh tế thị trường, pháp luật, tổ chức cuộc sống.
Theo nghĩa hẹp, đào tạo nghề theo chuyên môn của người lao động, trong đó đào tạo nghề tập trung đào tạo chuyên môn theo từng nghề nghiệp của người lao động. Các nội dung về nâng cao trình độ văn hóa, đào tạo những kiến thức chung ngoài các kiến thức chuyên sâu về nghề nghiệp không được đề cập theo phạm vi nghĩa hẹp. Công tác đào tạo nghề cho LĐNT bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây: Một là, xây dựng hệ thống mạng lưới dạy nghề, những chủ thể của quá trình đào tạo nghề cho LĐNT Hệ thống dạy nghề ở mỗi quốc gia, mỗi vùng, địa phương và các cơ sở sản xuất kinh doanh rất đa dạng. Đó là hệ thống các trường dạy nghề, bao gồm các trường cao đẳng, trường trung cấp nghề và các trung tâm dạy nghề.
Đó cũng có thể là các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư, công. làm nhiệm vụ chung là khuyến khích các hoạt động gắn với các ngành phát triển, trong đó có các hoạt động chuyển giao tiến bộ công nghệ và dạy nghề gắn với quá trình chuyển giao đó. Và đó cũng có thể là các tổ chức hội nghề, như hội nuôi ong, hội làm vườn, hội cơ khí, hội tự động hóa, hội sinh vật cảnh. cũng có nội dung hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ và nâng cao trình 11 độ tay nghề của các hội viên.
Đó cũng có thể là các tổ chức chính trị như hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ. Thậm chí đó là các doanh nghiệp, các gia đình dạy nghề dưới hình thức truyền nghề. Quy hoạch và thiết kế hệ thống các cơ sở đào tạo nghề theo từng cấp học, từng hình thức đào tạo nghề và theo từng vùng địa phương là nội dung mang tính tiền đề và quan trọng.