Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về lao động Theo học thuyết của Ăngghen: Lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài người. Vì vậy, xã hội càng văn minh thì tính chất, hình thức và phương pháp tổ chức lao động càng tiến bộ.
Về cơ bản, lao động được hiểu là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người. Như vậy, có thể hiểu “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người”. Lao động hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngoài các địa điểm được quy định là thành thị được coi là lao động nông thôn. Khái niệm về việc làm Theo quan điểm của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), người có việc làm là người làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội (Lê Thị Hằng, 2023).
Theo Bộ Lao động Việt Nam năm 2019: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Điều 13) và “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm; Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải 6 quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm” (Điều 9). Khái niệm thất nghiệp Trong kinh tế học: Thất nghiệp được hiểu là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm hoặc không được tổ chức, công ty và cộng đồng nhận vào làm. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO),“Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”. Ở Việt Nam, khái niệm về thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kì chuyển đổi nền kinh tế thị trường.
Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc. Đây là khái niệm chung đối với các ngành, các lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội. Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có thất nghiệp hay không thì còn có nhiều quan niệm khác nhau như: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp do thời vụ, thất nghiệp chu kỳ, … 1. Khái niệm thiếu việc làm Thiếu việc làm được hiểu là tình huống mà có sự không phù hợp giữa cơ hội việc làm và trình độ học vấn của người lao động.
Hay như Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nhận định: “Thiếu việc làm là người lao động trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn dành cho những người làm việc đủ (bao gồm cả người lao động có nhu cầu làm thêm)”. Thiếu việc làm được chia làm hai loại: Thiếu việc làm vô hình là tình trạng mà người lao động đạt đủ số giờ làm việc, thậm trí còn nhiều hơn số giờ làm quy định và có đủ việc làm nhưng lại hưởng mức lương thấp và không xứng đáng với công sức mình bỏ ra. Thiếu việc làm hữu hình là tình trạng mà người lao động có số giờ làm việc ít hơn so với thời gian được quy định thường lệ, họ 7 đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm thêm và sẵn sàng làm việc dù bất kỳ hoàn cảnh nào. Khái niệm giải quyết việc làm Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Vì vậy “giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể có việc làm”. Đặc điểm về lao động, việc làm ở nông thôn 1.
Đặc điểm của lao động nông thôn * Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng Đặc điểm này làm cho việc tổ chức hợp tác lao động và việc bồi dưỡng đào tạo, cung cấp thông tin cho lao động nông thôn là rất khó khăn. Hơn nữa, lao động nông thôn nước ta chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với năng suất lao động thấp, phương thức sản xuất còn nhiều lạc hậu, hiệu quả sản xuất không cao. * Chất lượng nguồn lao động nông thôn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chất lượng lao động được đánh giá bằng trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ. Chuyên môn kỹ thuật và trình độ học vấn, đội ngũ lao động của nước ta đông về số lượng nhưng sự phát triển của nguồn nhân lực có nhiều điểm yếu, nhiều mặt không đáp ứng những yêu cầu cao trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt khi Việt Nam tham gia vào WTO trong đó nông 8 nghiệp được xác định là một trong các thế mạnh.
Nhìn chung lao động nước ta có thu nhập thấp nên dẫn đến nhiều nhu cầu thiết yếu hàng ngày không bảo đảm đáp ứng một cách đầy đủ nhất là người dân và lao động ở khu vực nông thôn Về sức khoẻ, sức khoẻ của người lao động ảnh hưởng bởi lượng calo được đưa vào cơ thể mỗi ngày và môi trường sinh sống, môi trường làm việc. Môi trường cuộc sống và môi trường lao động ở nông thôn cũng bị ô nhiễm hơn nơi khác. Vì vậy, chất lượng của lao động trong nước nói chung và ở nông thôn nói riêng còn thấp (Trần Lê Hữu Nghĩa, 2010). * Lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông.
Do vậy, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Muốn giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn thì phải bằng mọi biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa tính thời vụ bằng cách phát triển đa dạng ngành nghề trong nông thôn, thâm canh tăng vụ, xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý. * Lao động nông thôn ít có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế. Do đó, khả năng giao lưu và phát triển sản xuất hàng hoá cũng có nhiều hạn chế.
Tập quán sản xuất của lao động nước ta nhìn chung vẫn nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu bị trói buộc trong khuôn khổ làng xã. Với những đặc điểm như trên, lao động nông thôn chủ yếu thuộc bộ phận dân số không có việc làm thường xuyên, hay còn gọi là thiếu việc làm hoặc bán thất nghiệp. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn còn do lao động tăng nhanh, do diện tích ruộng đất trên một lao động ngày càng giảm. Tình trạng đó không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chính lao động nông thôn mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển kinh tế - xã 9 hội ở nông thôn, gây lãng phí một nguồn lao động lớn ở nước ta.
Đặc điểm của việc làm ở nông thôn Việc làm cho lao động ở nông thôn là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội của một bộ phận lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm. Bao gồm những việc làm thuần nông và những việc làm phi nông nghiệp, vì vậy việc làm ở nông thôn thường mang những đặc điểm sau: - Cơ bản các hoạt động sản xuất đều bắt nguồn từ kinh tế hộ gia đình. Nên việc chú trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế khác nhau của kinh tế hộ gia đình là một trong những biện pháp tạo việc làm có hiệu quả. - Việc áp dụng khoa học kỹ thuật và chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thu dụng nhiều lao động cũng là biện pháp tạo thêm nhiều việc làm ngay trong sản xuất nông nghiệp.
- Hoạt động dịch vụ nông thôn là khu vực thu hút đáng kể lao động nông thôn và tạo ra thu nhập cao cho lao động. Nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 1. Giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế Phát triển kinh tế được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn, thông qua phát triển các ngành nghề sau: * Phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp: - Hình thành các vùng chuyên canh như: vùng rau an toàn, vùng hoa, vùng lúa đặc sản, vùng nông sản quà (ngô, mía, khoai…), vùng quả đặc sản, vùng dược liệu quý,… 10 - Phát triển mô hình kinh tế trang trại: Mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm; chăn nuôi thủy hải sản; trồng dược liệu quý, hiếm,… * Phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề như: Gia công cơ khí, may mặc, chế biến lâm sản; sản xuất đồ gỗ công nghiệp, nghề mộc, chạm khắc, đồ gỗ mỹ nghệ và gia dụng; chế biến thực phẩm, làm bánh, làm bún… * Phát triển các ngành nghề dịch vụ như: Dịch vụ du lịch; dịch vụ ăn uống; sửa chữa ô tô, xe máy, dân dụng; thẩm mỹ… Sự phát triển các ngành nghề trên đã thu hút rất nhiều lực lượng lao động ở địa phương, giải quyết những vấn đề rất cơ bản của đời sống hộ gia đình nông thôn. Tuy nhiên, để tạo nhiều việc làm và việc làm ổn định cho người lao động, việc triển ngành nghề ở nông thôn cần có quy hoạch và phải dựa trên cơ sở khai thác được những lợi thế của địa phương; tạo điều kiện cho người lao động có được thế mạnh cũng như khả năng để tạo dựng ngành nghề.