CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Lý thuyết về thất nghiệp 1. Khái niệm Thất nghiệp là tình trạng nan giải của nhiều nước. Ở Việt Nam tình trạng đó mới nảy sinh từ khi đất nước thực hiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Mặc dù so với thế giới, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong những năm qua vẫn đang là con số khá khiêm tốn, nhưng vấn đề nảy sinh từ tình trạng thất nghiệp cao ở thanh niên đang ngày càng gia tăng. Đặc biệt, trong thời điểm đất nước bước vào cơ cấu dân số vàng, thì thất nghiệp ở thanh niên thực sự là một vấn nạn xã hội, là một thách thức của phát triển, làm mất đi các cơ hội được làm việc, cống hiến và quyền được phát triển của thanh niên, làm tổn thương tinh thần và trói buộc năng lực của những người đang nuôi nhiều khát vọng tốt đẹp cho tương lai tươi sáng của mình và của đất nước. Khái niệm thất nghiệp đã được bàn đến trên thế giới trong suốt thế kỷ XX. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) “Thất nghiệp là việc ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc”(1).
Ba mươi năm sau, ILO lại đưa ra khái niệm về “người thất nghiệp” và khái niệm này đã được đón nhận rộng rãi ở cộng đồng quốc tế; “Người thất nghiệp bao gồm toàn bộ số người ở độ tuổi làm việc theo quy định trong thời gian điều tra, có khả năng làm việc, nhưng không có việc làm và vẫn đang đi tìm kiếm việc làm”. Từ 2 định nghĩa trên về khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp của ILO, chúng ta thấy rõ bốn tiêu chí cơ bản để xác định “người thất nghiệp” đó là: 1) Người trong độ tuổi lao động; 2) người có khả năng lao động; 3) đang không có việc làm; và 4) người đó vẫn đang tích cực đi tìm việc làm. Đây là các tiêu chí chung, mang tính khái quát cao, đã được nhiều chính phủ tán thành ủng hộ và lấy làm cơ sở để vận dụng xem xét khái niệm “người thất nghiệp” và tính tỷ lệ thất nghiệp tại quốc gia mình. Do các điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) khác nhau, nên quan niệm về người thất nghiệp có thể còn khác nhau và thực tế vấn đề thất nghiệp cũng được các chính phủ xem xét theo những cách khác nhau.
Tuy 6 nhiên, quan điểm mang tính khái quát cao của ILO đã góp phần đưa ra một cái nhìn toàn diện về vấn nạn thất nghiệp như một trong những vấn đề của quyền con người trước nhu cầu vươn tới một cuộc sống no đủ, có ích, được đảm bảo an ninh thu nhập và không ngừng nâng cao năng lực phát triển của mọi thành viên xã hội, dù họ sống ở quốc gia nào.Ở Việt Nam, thuật ngữ “thất nghiệp” đã được đề cập trong những văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước trong suốt mấy kỳ đại hội gần đây, thể hiện như một cảnh báo xã hội trong các Chiến lược phát triển KT - XH các giai đoạn 2001- 2010 và 2010 - 2020. Năm 2006, khái niệm “người thất nghiệp” ở Việt Nam đã được luật hóa và trở thành một thuật ngữ pháp lý tại Khoản 4, Điều 3 của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) là: “người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng chưa tìm được việc làm”. Như vậy, Luật BHXH chỉ tính người thất nghiệp trong phạm vi những lao động đóng BHXH bắt buộc, thì ở Việt Nam các chỉ báo về “người thất nghiệp” sẽ chỉ thể hiện được một phần lực lượng lao động hiện không có việc làm. Vì vậy, ở Việt Nam 2 khái niệm “người không có việc làm” và “người thất nghiệp” luôn song song tồn tại nhưng không hoàn toàn trùng khớp với nhau.
Phân loại [20, tr 300-310] Nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra những lý thuyết mới về thất nghiệp, phân tích các nguyên nhân và các tác động kinh tế và tác động xã hội của thất nghiệp. Một trong số các nhà kinh tế đưa ra lý thuyết mới về thất nghiệp đó là Samuelson- nhà kinh tế học người Mỹ. Samuelson đã phân tích cung-cầu về lao động để thấy rõ bản chất của thất nghiệp. Từ đó ông đã phân ra một số dạng thất nghiệp như: - Thất nghiệp tự nguyện: Là những người lao động có nhu cầu làm việc nhưng lại không muốn làm việc với mức lương thịnh hành trên thị trường lúc đó.
- Thất nghiệp không tự nguyện: Là những người không có việc làm, muốn làm việc với mức lương đang thịnh hành nhưng không thể tìm được việc làm do cầu về lao động thấp. Sau khi phân tích những biến động của thị trường lao động và các biến động của nền kinh tế, Samuelson còn phân ra 3 loại thất nghiệp, đó là: - Thất nghiệp tạm thời: Là dạng thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con người giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau 7 của cuộc sống. Ông cho rằng trong một nền kinh tế có đầy đủ việc làm, nhưng vẫn có thể luôn có một bộ phận người lao động di chuyển từ nơi này sang nơi khác do nhu cầu của cuộc sồng và chưa thể có việc làm ngay. - Thất nghiệp có tính cơ cấu: Là dạng thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động.
Trong một nền kinh tế biến động, cầu về một loại lao động nào đó tăng lên, trong khi mức cầu về một loại lao động khác lại giảm đi, nhưng mức cung lao động lại không được điều chỉnh đồng thời nên xảy ra tình trạng thất nghiệp cơ cấu. - Thất nghiệp chu kỳ: Là dạng thất nghiệp xảy ra khi mức cầu chung về lao động thấp. Khi tổng mức chi và sản lượng giảm, thất nghiệp sẽ tăng lên ở khắp mọi nơi trong toàn bộ nền kinh tế. Khác với thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp chu kỳ phản ánh sự rệu rã, suy thoái của một nền kinh tế.
Ảnh hưởng [23] Thất nghiệp là một hiện tượng KT - XH, xuất hiện dưới tác động của nhiều yếu tố hợp thành, trong đó có những yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả. Theo chiều ngược lại, thất nghiệp, nhất là thất nghiệp ở thanh niên, luôn có tác động không mong muốn trở lại đối với phát triển KT – XH: * Thất nghiệp làm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng lạm phát Tỷ lệ thất nghiệp cao gây tổn hại cho nền kinh tế, khi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp và nguồn lực về con người không được sử dụng. Đặc biệt là, thất nghiệp ở thanh niên gia tăng có nghĩa là một lực lượng lao động xã hội tiềm năng nhất không được huy động vào hoạt động kinh tế tăng lên. Đây là sự lãng phí lao động xã hội ghê gớm, trong khi ngân sách nhà nước nói chung và nguồn tài chính của các gia đình nói riêng còn đang rất eo hẹp.
Đặc biệt, khi thất nghiệp xảy ra, của cải vật chất không những không tăng thêm mà càng ngày càng tiêu hao thêm nữa, thiệt hại do “cơn bão” thất nghiệp rất lớn, có thể lên tới hàng tỷ USD mỗi năm cho mỗi quốc gia. Thanh niên là nhóm dân số đóng vai trò quan trọng xét về góc độ kinh tế: họ vừa là động lực cho sản xuất, vừa là động lực cho tiêu dùng. Điều đó có nghĩa là thất nghiệp ở thanh niên sẽ gắn liền với khủng hoảng ở cả hai chiều sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế. Thanh niên luôn có nhu cầu tiêu dùng cao, trong khi không có 8 việc làm (tức là không có thu nhập) ắt sẽ dẫn đến những căng thẳng trong cuộc sống.
Thanh niên là những người năng động, luôn tìm tòi và luôn có khát vọng được thể hiện và cống hiến, nếu bị “khống chế” bởi những chính sách việc làm chưa phù hợp thì có thể gây ra xung đột xã hội. Như vậy, tình trạng thất nghiệp ở thanh niên là một vấn đề KT - XH nan giải, cần phải giải quyết sớm, nhất là khi tình hình KT - XH đã có nhiều thay đổi. * Thất nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống của người lao động cũng như gia đình họ, đồng thời tạo nên những gánh nặng cho an sinh xã hội và nền kinh tế. Người lao động bị thất nghiệp, tức sẽ mất việc làm và nguồn thu nhập thường xuyên nuôi sống họ và cả gia đình.
Do đó, cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình họ ắt sẽ trở nên khó khăn hơn. Eo hẹp về tài chính, nhiều nhu cầu thiết yếu của gia đình sẽ bị cắt giảm; một số điều kiện học tập của con cái người lao động cũng sẽ không được đáp ứng; không hiếm trường hợp một vài con em trong gia đình phải nghỉ học để đi làm giúp cha mẹ. Đặc biệt khi người thất nghiệp là thanh niên, nhu cầu học tập, tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp là rất lớn. Tuy nhiên, khó khăn về tài chính đã thủ tiêu các cơ hội học tập của thanh niên để họ có thể nhanh chóng trở lại thị trường lao động.
Có thể nói, thất nghiệp đã “dồn” thanh niên, những người sẵn sàng một cuộc sống lao động sáng tạo, đến sự bần cùng, chán nản và bất lực trước cuộc sống. Mất việc làm và thu nhập là mất cơ hội phát triển, từ sự mất tự tin và cũng bị suy giảm niềm tin, thanh niên thất nghiệp thường dễ dàng đến với những sai phạm đáng tiếc. Thất nghiệp luôn là một nỗi lo lớn đối với các nền kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển với hệ thống an sinh xã hội chưa hoàn thiện như nước ta. Khi thất nghiệp gia tăng, chính phủ các nước đang phải có những “gói cứu trợ” khẩn cấp để giải cứu nền kinh tế và phải chi một khoản tiền khổng lồ để trợ cấp thất nghiệp, giúp cho người lao động qua cơn nguy khốn về kinh tế.
Nền kinh tế vốn đã trì trệ lại phải chịu thêm những gánh nặng do các gói trợ giá cho tiêu dùng, hỗ trợ người thất nghiệp tìm kiếm việc làm. Do vậy, thất nghiệp trở thành một thách thức to lớn cho an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của một nền kinh tế. Tuy nhiên, đây chỉ là gói hỗ trợ ngắn hạn, tạm thời cho người thất nghiệp khi chưa tìm được việc làm, với 9 điều kiện người lao động trước đó tự nguyện đóng bảo hiểm thất nghiệp.