CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO MẪU 1. KHÁI NIỆM VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ: Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự và là phương tiện pháp lý cơ bản để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội. Theo đó, các chủ thể trong xã hội, trong đó có người tiêu dùng và doanh nghiệp, luôn tồn tại các nhu cầu để phát triển, bao gồm cả nhu cầu mua/sử dụng hàng hóa, dịch vụ và ngược lại là nhu cầu bán/cung ứng hàng hóa, dịch vụ.
Để thỏa mãn các nhu cầu đó, các chủ thể phải tìm đến và giao dịch với nhau. Kết quả của các giao dịch thành công sẽ là xác lập nên các giao kết, hợp đồng như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tiền gửi… Hợp đồng tồn tại ở khắp nơi, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, xã hội và nền kinh tế. Trên thế giới, các nhà làm luật hầu như không có sự phân biệt các loại hợp đồng dân sự hay thương mại. Hợp đồng được sử dụng theo nghĩa chung với những nguyên tắc, đặc điểm chung.
Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực, các quốc gia sẽ có những quy định mang tính đặc thù về nội dung và hình thức của hợp đồng cho phù hợp với yêu cầu của nhà nước và xã hội. Ở Việt Nam, trước đây, các nhà luật học thường phân biệt hợp đồng thành hai loại chính tương ứng với từng lĩnh vực dân sự - kinh tế là hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại. Các loại hợp đồng này có rất nhiều điểm chung và chủ yếu được phân biệt bởi yếu tố chủ thế và mục đích giao kết. Theo đó, hợp đồng dân sự được giao kết giữa các cá nhân với nhau hoặc giữa 9 z NguyÔn ThÞ Ngäc Anh LuËn v¨n Th¹c sü LuËt Quèc tÕ tổ chức với cá nhân vì mục đích tiêu dùng, sử dụng hàng ngày.
Ngược lại, hợp đồng thương mại được giao kết giữa các tổ chức với nhau vì mục đích kinh doanh, sinh lợi. Tuy nhiên, hiện nay, việc phân định giữa hai loại hợp đồng này không còn rõ ràng và cũng không còn là một đòi hỏi bức thiết đối với các nhà làm luật, các nhà luật học hay các chủ thể giao kết hợp đồng. Trên thực tế, hầu hết những quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại – kinh tế đều được xây dựng trên nền tảng quy định về hợp đồng dân sự tại Bộ luật Dân sự. Đặc biệt, trong lĩnh vực mua sắm, tiêu dùng, Luật thương mại không đưa ra định nghĩa và đặc điểm để phân biệt giữa hợp đồng thương mại và các hợp đồng dân sự.
Do đó, trên thực tiễn, không phải hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ nào cũng là hợp đồng thương mại hay hợp đồng dân sự. Các ranh giới để phân biệt chúng là rất mong manh, chủ yếu chỉ dựa vào yếu tố mục đích của giao dịch. Có nghĩa là, khi hợp đồng điều chỉnh các giao dịch phục vụ mục đích sử dụng, tiêu dùng thì đó là hợp đồng dân sự; ngược lại, nếu hợp đồng đề cập đến các giao dịch phục vụ mục đích kinh doanh thì đó là hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào trong hợp đồng cũng quy định mục đích giao dịch cũng như không phải lúc nào những người giao kết hợp đồng cũng chỉ hướng tới một mục đích là tiêu dùng hoặc kinh doanh.
Thêm nữa, trong thực tế giao kết hợp đồng, các bên trong hợp đồng thường nêu các căn cứ pháp lý là cả Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại. Như vậy, có thể thấy, sự phân định giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại ở Việt Nam là chưa thực sự rõ ràng, kể cả về khía cạnh lập pháp lẫn khía cạnh thực tiễn áp dụng. Hợp đồng dân sự và các quy định pháp luật về hợp đồng dân sự vẫn được coi là nền tảng, khuôn mẫu để xây dựng các loại hợp đồng thương mại – kinh tế khác. Vì vậy, các đặc điểm của hợp đồng dân sự cũng được coi chính là các đặc điểm của những hợp đồng thương mại – kinh tế khác.
10 z NguyÔn ThÞ Ngäc Anh LuËn v¨n Th¹c sü LuËt Quèc tÕ Tại Điều 388 của Bộ luật Dân sự 2005, các nhà làm luật đã đưa ra định nghĩa của Hợp đồng dân sự là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Định nghĩa này thể hiện đầy đủ về đặc điểm của hợp đồng dân sự nói riêng và hợp đồng nói chung. Theo đó, hợp đồng phải là sự thỏa thuận giữa các bên chứ không phải là các tuyên bố, thông báo, cam kết đơn phương của cá nhân hay tổ chức nào và nội dung của hợp đồng để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên. Ví dụ như Hợp đồng mua bán bàn ghế được ký kết giữa một bên là bên bán hàng và một bên là bên mua hàng, trong đó đưa ra các quyền, nghĩa vụ của Trên cơ sở định nghĩa này, các nhà làm luật đặc biệt chú ý các nhân tố để hình thành hợp đồng dân sự, bao gồm: Thứ nhất, về chủ thể giao kết Hợp đồng dân sự: Hợp đồng dân sự phải có sự tham gia của hai chủ thể trở lên. Theo đó, nếu chỉ có một bên đưa ra tuyên bố đơn phương thì không thể được coi là Hợp đồng dân sự.
Không những vậy, các chủ thể khi tham gia xác lập, giao kết Hợp đồng dân sự còn phải có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, nhận biết và ý thức đầy đủ về hành vi và hậu quả của hành vi do mình thực hiện. Thứ hai, về nguyên tắc giao kết Hợp đồng dân sự: Việc giao kết Hợp đồng dân sự phải tuân thủ nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và ngay thẳng giữa các bên. Điều này có nghĩa là, Hợp đồng dân sự phải được hình thành trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất giữa các chủ thể tham gia xác lập và giao kết Hợp đồng. Nguyên tắc này được kế thừa từ tinh thần “Tự do khế ước” truyền thống lâu đời trong pháp luật Việt Nam.
Nếu thiếu đi tinh thần tự do, sự thỏa thuận này, Hợp đồng dân sự sẽ không còn là giao dịch đúng nghĩa. Thứ ba, về hình thức của Hợp đồng dân sự: Hợp đồng dân sự cơ bản có thể tồn tại dưới cả hình thức bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Trong những trường hợp pháp luật có quy định, một số dạng Hợp đồng 11 z NguyÔn ThÞ Ngäc Anh LuËn v¨n Th¹c sü LuËt Quèc tÕ còn cần phải được công chứng, chứng thực bởi các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Thứ tư, về nội dung của Hợp đồng dân sự: Nội dung của Hợp đồng dân sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ Hợp đồng.
Về cơ bản, các bên có thể tự do thỏa thuận và thống nhất về các điều kiện, điều khoản của Hợp đồng nhưng không được trái với các quy định pháp luật hiện hành và không trái với đạo đức xã hội. Các nhân tố then chốt, đặc điểm nổi bật của hợp đồng dân sự kể trên cũng chính là của các loại hợp đồng thương mại, kinh tế. Khi hợp đồng dân sự nói riêng và hợp đồng nói chung thỏa mãn được cả 4 yếu tố về chủ thể giao kết, tinh thần giao kết, nội dung giao kết và hình thức giao kết, Hợp đồng sẽ phát sinh hiệu lực. Trong các trường hợp ngược lại, Hợp đồng sẽ được xác định là vô hiệu.
Tuy nhiên, Hợp đồng không đương nhiên vô hiệu mà cần phải được một bên trong quan hệ Hợp đồng hoặc bất kì bên thứ ba nào khác yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định và tuyên bố vô hiệu. Trên cơ sở quyết định có hiệu lực của Tòa án, Hợp đồng mới chính thức bị vô hiệu. Xuất phát từ các quy định pháp luật hiện hành, khi giao kết Hợp đồng, để tránh các rủi ro pháp lý từ việc Hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, các chủ thể tham gia giao kết phải thực sự chú trọng và cân nhắc về cả 4 yếu tố nêu trên cũng như các quyền lợi và nghĩa vụ của mình phát sinh hoặc liên quan đến Hợp đồng đã/sẽ giao kết đó. KHÁI NIỆM VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO MẪU Thông thường, hợp đồng sẽ được hình thành trên cơ sở kết quả của các cuộc thương lượng, thống nhất giữa các bên tham gia giao kết.
Tuy nhiên, trong guồng quay của sự phát triển, các chủ thể đều muốn rút ngắn thời gian soạn thảo hợp đồng để thúc đẩy quá trình giao dịch. Chính vì vậy, các hợp đồng theo mẫu ra đời. 12 z NguyÔn ThÞ Ngäc Anh LuËn v¨n Th¹c sü LuËt Quèc tÕ Ngày nay, Hợp đồng theo mẫu được sử dụng nhiều, phổ biến trong hoạt động của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có số lượng khách hàng lớn và đa số là khách hàng cá nhân, nhỏ lẻ. Thực tế này cũng rất dễ hiểu bởi trên thực tế, với số lượng giao dịch phát sinh nhiều như các doanh nghiệp này, họ sẽ không thể có đủ thời gian để xác lập và giao kết các hợp đồng theo trình tự, thủ tục thông thường đối với từng khách hàng được.
Họ rất cần phải có sẵn các Hợp đồng mang tính chất chuẩn tắc, với những điều kiện, điều khoản ràng buộc khách hàng và vẫn bảo vệ được quyền lợi của chính doanh nghiệp. Điều này đã dẫn đến sự bùng nổ trong việc sử dụng hợp đồng theo mẫu tại các doanh nghiệp hiện nay. Trên thế giới, hợp đồng theo mẫu có thể được quy định bằng các tên gọi khác nhau cũng như tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau. Một số quốc gia quan niệm đây là dạng hợp đồng mẫu (standard form contract) – tức là hợp đồng soạn sẵn, áp dụng cho nhiều đối tượng và sẽ không được thương lượng lại các điều khoản của hợp đồng.