Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỢP ĐỔNG KINH TẾ VÔ HIỆU VÀ HẬU QUÁ PHÁP LÝ CỦA NÓ 1. HỢP DONG KINH TẾ VÀ NHUNG ĐẶC THU CUA NÓ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC TA 1. Những yêu câu đặt ra đối với việc điều chỉnh hợp đồng bằng pháp luật Hợp đồng là một trong những chế định pháp lý có bề dày lịch sử. Ngay từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản.
Hợp đồng là hình thức pháp lý thích hợp và có hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá - tiền tệ. Thực tiễn của các nền kinh tế thị trường trên thế giới từ xưa đến nay đã khẳng định giá trị và vai trò của hợp đồng. Ngày nay phần lớn các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng các hợp đồng. Điều này xuất phát từ việc pháp luật hiện đại thừa nhận quyền bình đẳng của con người trước pháp luật và quyền tự do cá nhân.
Vai trò và vị trí của chế định hợp đồng ngày càng được khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật. "Kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn mình thì chế định hợp đồng càng được coi trọng, càng được hoàn thiện" [18, tr. Trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, pháp luật về hợp đồng giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Vai trò trung tâm của hợp đồng trong hệ thống kinh tế và pháp luật không phải là ngẫu nhiên, đặc biét là trong nền kinh tế thi trường, nơi mà mọi dịch vụ, hàng hóa.
phải được tự do chuyén dich trong thi trường thì vai trò của chế định hop đồng càng được thé hiện lớn hơn, bởi lẽ trong các quan hệ hợp đồng thì ý chí của các bên mang tính quyết định. Về nguyén tac pháp luật tôn trọng ý chí của các bên và chi can thiệp trong các trường. hợp mà ở đó có sự giới hạn của pháp luật. "Vai trò của chế định hợp đồn: là quy định làm căn cứ để giải thích rõ nội dung của các phần mà các bên :hể hiện chưa rd, hay bổ sung những phần mà các bên chưa xác định" [13, tr.
Ở hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới, hợp đồng được thừa nhận về mặt pháp lý khi đáp ứng những yêu cầu sau: Thứ nhất, hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham gia kí kết. Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong vận hành của nền kinh tế thị trường. Chức năng cơ bản của hợp đồng quyết định bản chất và giá trị xã hội của n6 trong điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Hợp đồng là hình thức pháp lý của sự trao đổi hàng hóa, tiền tệ.
Trao đổi hàng - tiền đặt ra sự bình đẳng hình thức giữa những người tham gia trao đổi đó và thừa nhận quyền tự do hành động của họ [49, tr. Hợp đồng luôn luôn gắn liền với sự tự do thể hiện ý chí của các chủ thể. Tu do ý chí trong giao kết hợp đồng được hình thành va phát triển mạnh mẽ ở Pháp từ thế kỷ 18. Lúc đầu nó được coi là nguyên tắc độc tôn ý chí.
Nguyên tắc này cho phép các cá nhân được tự do quyết định trong việc giao kết hợp đồng và khẳng định quyền của mỗi cá nhân tham gia vào giao dịch chỉ phụ thuộc vào chính họ mà không phụ thuộc vào pháp luật. Ý chí của họ được thể hiện mot cách độc lập và xuất phát từ lợi ích cá nhân. Quan niệm này xuất phát từ việc cho rằng nếu các cá nhân tự do giao kết thì sẽ đảm bảo được sự công bằng trong quan hệ hợp đồng. Nguyên tắc tự do kí kết hợp đồng đưa đến một hệ quả là hợp đồng khi đã được kí kết thì có giá trị bất buộc thực hiện.
Việc thay đổi hợp đồng cũng chỉ có thể được thực hiện bởi sự thoả thuận của các chủ thể hợp đồng và không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của họ cũng như khéng có quyền làm thay đổi ý chí của họ. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển của hợp đồng cho thấy quan điểm tự do một cách tuyệt đối như trên đã không tồn tại được lầu và càng ngày đã càng bộc lộ sự bất bình đăng trong giao kết hợp đồng. Trên thực tế ý nghĩa của nguyên tắc này chỉ mang tính hình thức mà thôi. Khi nói đến hợp đồng ta hiểu các chủ thể trong đó bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Thế nhưng, thực tiễn cho thấy các bên kí kết hợp đồng thường không ngang bằng nhau mà có một bên mạnh hơn và một bên yếu hơn về kinh tế. Do đó trên thực tế không có sự tự do kí kết hợp đồng mà thường là một bên phải phụ thuộc vào ý chí của bên kia chứ không thể hiện ý chí chung của các bên bằng việc thông qua hợp đồng đã được định sẵn của một bên mạnh hơn về kinh tế. Hợp đồng trên thực tế không còn là kết quả của sự thể hiện ý chí chung của các bên nữa mà trở thành hình thức biểu hiện của sự bất bình đẳng giữa các bên với nhau. Chính vì lẽ đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước đến các quan hệ này.
Công cụ can thiệp được Nhà nước sử dụng là pháp luật và chế định hợp đồng vì thế giữ một vi trí rất quan trong trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng. Cùng với sự thay đổi về quan điểm dé cao lợi ích cá nhân sang lợi ích xã hội đã làm cho quan điểm về các nguyên tắc này thay đổi. Để bảo vệ quyền lợi của bên yếu hơn trong quan hệ hợp đồng, lý thuyết về hợp đồng của một số nước đã đưa ra khái niệm lạm dụng, ngay tinh và công bằng. Điển hình là Pháp, Đức, Nhật, Việt Nam.
đã phi nhận nguyén tắc này trong Bộ luật dân sự của mình. Nguyên tac Ngay tình được áp dụng nhằm làm giảm nhẹ hiệu lực bắt buộc của hợp đồng. Thực ra rất khó để định nghĩa thế nào là ngay tình. Đầu tiên, người ta nhìn nhận ngay tình như nghĩa vụ trung thực, nghĩa là người có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện hợp đồng một cách trung thực, còn đối với người có quyền thì không được cản trở người có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
Dần dần, qua thực tiễn người ta cho rằng nếu chỉ hiểu ngay tình là trung thực thì chưa đủ và khái niệm ngay tình còn được hiểu là nghia vụ hop tác piữa các bên. Nghĩa vụ hợp tác giữa các bên thể hiện ở việc các bên phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho nhau để thực hiện hợp đồng. Nguyên tắc ngay tình không chỉ được áp dụng trong quá trình thực hiện hợp đồng mà còn được áp dụng trong cả quá trình hình thành hợp đồng. Nguyên tắc ngay tình nhằm bảo vệ bên yếu hơn trong hợp đồng và nhằm lập lại sự bình đẳng giữa các bên trong hợp đồng.
Khái niệm Lạm dụng được hình thành ở Pháp vào những năm 70. Xuất phát từ sự mất cân đối trong hợp đồng có nguyên nhân từ việc một bên là những thương gia đơn phương soạn thao hợp đồng và đối tác thường là những người tiêu dùng phải tham gia hợp đồng mà không có sự thể hiện ý chí. Lúc đó nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng và huỷ bỏ các điều khoản lạm dụng và nhằm bảo vệ bên yếu hơn trong hợp đồng các nhà lập pháp đã đưa vào luật khái niệm lạm dụng. Có hai tiêu chí để xác định có sự lạm dụng là sự lạm dụng thế mạnh kinh tế để áp đặt các điều khoản của hợp đồng và sự lạm dụng đem lại lợi ích thái quá cho một bên chủ thể.
Da bằng cách này hay cách khác thì chế định hợp đồng ở mỗi quốc gia khác nhau đều hướng tới việc tạo ra sự bình đẳng giữa các bên giao kết hợp đồng. Thứ hai, hợp đồng phải là tập hợp những cam kết được pháp luật thừa nhận, ung hộ và đứng ra bảo vệ. Chế định hợp đồng luôn tôn trọng sự tự do của các bên giao kết, song sự tự do đó phải giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ bảo vệ các cam kết không xâm hại đến trật tự pháp luật, trật tự công.
Xuất phát tt nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dan sự là tôn trọng quyền tự do ý chí của moi cá nhân và các chủ thể khác trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của mình, sháp luật của các nước quy định rằng các chủ thể được hoàn toàn tự do giao kết hợp đồng, miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc hình 14 thành các hạn chế của nguyên tắc tự do trong kí kết hợp đồng xuất phát từ quan điểm bảo vệ trật tự và lợi ích công. Vì vậy, pháp luật sẽ bảo vệ quyền và lợi ích của các bên kí kết hợp đồng, song các quyền và lợi ích này không được xâm hại đến trật tự và lợi ích công. Thứ ba, chế định hợp đồng mang tính bat buộc song cũng hết sức linh hoạt, uyển chuyển.
Điều này không dé dàng đạt được nếu như các quy định pháp luật không được xây dựng theo dạng "mềm", tức là xác định các nguyên tắc co ban va coi các cam kết trong hợp đồng không đơn thuần là các chứng cứ. Về vấn đề này, hiện đang có hai xu hướng luật trái ngược nhau. Mét là, xu hướng đơn giản hóa các quy tắc, giảm bớt số lượng va sự phức tap của những điều luật mang tính chung và có kết cấu mạch lạc hơn, hợp lí hơn, dễ hiểu hơn. Hai là, xu hướng làm cho luật phong phú hơn bằng nhiều chi tiết rõ ràng.
Pháp luật về hợp đồng của các nước theo hệ thống luật án lệ được xây dựng theo hướng thứ hai. Do sử dụng án lệ nên pháp luật của các nước này rất dễ dàng thích nghi với các điều kiện thực tiễn và cũng rất dễ dàng thay đổi để phù hợp với thực tiễn. Nói cách khác, nó mang tính linh hoạt và cập nhật. Pháp luật về hợp đồng của các nước theo hệ thống luật văn bản tương đối ổn định và mang tính ràng buộc cao.
Tuy nhiên, do thủ tục ban hành luật rất phức tạp và đòi hỏi nhiều thời gian nên sự thay đổi chúng là rất khó khăn. Theo hệ thống pháp luật này có một số quốc gia vẫn đồng thời áp dụng các án lệ, các học thuyết pháp lý, mà đại diện là Pháp.