Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE HUY BO HỢP DONG 1. Khái niệm hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng 1. Khái niệm hợp đồng Con người là chủ thé của xã hội. Dé có thé tồn tại và phát triển, các chủ thé trong xã hội phải tham gia vào các giao dịch nhất định thông qua việc trao đôi, dịch chuyên các lợi ích do mình tạo ra và nhận lại những lợi ích vật chất cần thiết từ các chủ thé khác nhằm thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của mình.
Một trong những phương thức cơ bản dé thực hiện việc trao đôi lợi ích trong xã hội chính là sự thỏa thuận giữa các bên, dựa trên các nguyên tắc tự đo, tự nguyện, bình đăng và được đặt dưới sự bảo trợ của luật pháp. Hiện tượng đó được định danh trong luật bang thuật ngữ pháp lý: “Hop đông” [30, tr. Mac dù hợp đồng là một hình thức giao dich quan trọng và phô biến, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về hợp đồng. Mỗi hệ thống pháp luật khác nhau lại có những quan niệm về hợp đồng không giống nhau.
BLDS Pháp — một bộ luật cô xưa và lâu đời nhất quy định: “Hop đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiễu người cam kết với một hoặc nhiễu người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó ” [9, Điều 1101]. Theo khái niệm về hợp đồng này ta có thé thấy được nét đặc trưng nổi bật trong quan hệ hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, cũng như thấy được chức năng của hợp đồng là nhằm chuyền giao một vật, làm hoặc không làm một việc. Tuy nhiên khái niệm này vẫn chưa thể hiện được một đặc trưng vô cùng quan trọng của hợp đồng, đó là hiệu lực ràng buộc pháp lý giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Hợp đồng theo quy định tại Điều 1 — 201 Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) là tong thể các nghĩa vụ phát sinh từ sự thỏa thuận của các bén'.
Còn trong văn bản Pháp điền lần thứ hai (Restatement of Contract 2") lại định nghĩa hợp đồng là một hoặc một tập hợp các cam kết mà nếu vi phạm những cam kết này thì buộc phải thực hiện bằng sự cưỡng chế của pháp luật, hoặc nói cách khác pháp luật công nhận ! «the total obligation in law which result from the parties’ agreement” việc thực hiện những cam kết này là một nghĩa vu.’ Khái niệm về hợp đồng nay đã thé hiện cơ bản được những đặc trưng nổi bật của hợp đồng. Theo đó, hợp đồng được đặc trưng bởi sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên và sự ràng buộc pháp lý về quyên và nghĩa vụ xuất phát từ những thỏa thuận hợp pháp trong hợp dong. Ở Việt Nam, do có một số khác biệt trong hệ thong phap luat so voi phan lon pháp luật các nước khác ở chỗ: Việt Nam chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật XHCN, không có sự phân chia hệ thống pháp luật thành luật công hay luật tư, cũng như không coi BLDS là luật gốc trong ngành luật tư; ngoài ra trong pháp luật hợp đồng của Việt Nam do ảnh hưởng từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã tồn tại khá lâu và có sự phân biệt về chủ thể và mục đích của hợp đồng dẫn đến sự phân loại một cách tương đối độc lập hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế cũng như một số loại hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Điều 388 BLDS 2005 định nghĩa về hợp đồng dân sự như sau: “Hop dong dan sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, hoặc cham ditt quyên, nghĩa vụ dân sự”.
Mac du đây là khái niệm về hợp đồng dân sự nhưng quy định này lại tương đối hợp lý và khái quát được những nét đặc trưng cơ bản của hợp đồng, nội dung của nó có sự phù hợp với khoa học pháp lý của đa số các quốc gia trên thế giới. Quan niệm về hợp đồng này của Việt Nam tương đối giống với quan niệm về hợp đồng trong pháp luật của các nước Trung Quốc, Nga’. Từ những phân tích trên, ta có thể thấy rằng dù tiếp cận dưới góc độ nào thì bản chat của hợp đồng van là sự thong nhất của hai hay nhiều chủ thể trên cơ sở thỏa thuận với mục đích làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các bên trong quan hệ hợp đồng. Như vậy có thể định nghĩa: hop đồng là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều chủ thể nhằm lam phát sinh, thay đổi hoặc cham đứt các quyên, nghĩa vu.
Khái niệm hủy bỏ hợp đồng Nguyên tắc Pacta sunt servanda hay còn gọi là nguyên tắc hiệu lực bất bién của hợp đồng cho thấy một hợp đồng được thiết lập hợp pháp thì có hiệu lực như là pháp luật đôi với các bên kê từ thời diém giao kêt ma một bên không được tự ý sửa đôi hoặc “A contract is a promise or a set of promise for breach of which the law gives a remedy, or performance of which the law in some way recognises as a duty” 3 Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc (1999) qui định: “Hợp đồng theo qui định của Luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, các tổ chức khác. Các thỏa thuận liên quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ. thích dụng với qui định của các luật khác. Khoản 1 Điều 420 BLDS Nga (1994) quy định: “Hop đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chdm ditt quyên, nghĩa vụ dân sự” hủy bỏ.
Một trong những nội dung của nguyên tắc này là hạn chế cho phép HBHĐ vì những lý do chủ quan của chủ thể. Hạn chế việc sửa đôi, đơn phương chấm dứt thực hiện, hủy bỏ hợp đồng bằng cách đưa ra cơ chế cụ thể, với căn cứ pháp lý rõ ràng, thủ tục chặt chẽ, chế tài nghiêm minh dé xử ly các trường hợp vi phạm nhằm tạo ra cơ chế để các bên thực hiện quyền tự do hợp đồng; đồng thời hạn chế việc lạm dụng các quy định này dé ĐPCD hoặc HBHĐ một cách tùy tiện [28, tr. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng trên thực tế luôn tiềm ấn những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan khiến cho các nghĩa vụ trong hợp đồng không được thực hiện đúng, đầy đủ như cam kết. Khi đó, dé bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp cho các bên trong quan hệ hợp đồng, pháp luật trao cho họ quyền được HBHD trên cơ sở thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Về mặt thuật ngữ, “huy bo” có nghĩa là bỏ di, không coi là còn giá trị [53, tr. Như vậy có thé hiểu HBHĐ là coi như hợp đồng không còn tôn tai, không còn có giá trị đối với các bên. Tuy nhiên đây chỉ là cách hiểu về mặt thuật ngữ không mang tính pháp lý, chưa thé cho thay rõ bản chat, nội dung của biện pháp HBHD. Từ điển giải thích từ ngữ luật học, được xem là từ điển có vai trò quan trọng đối với những người nghiên cứu khoa học pháp lý, qua đó ta có thé hiểu được nội dung của các thuật ngữ pháp lý.
Tuy nhiên hiện nay, khái niệm HBHĐ cũng chưa được đề cập trong Từ điển giải thích từ ngữ luật học mà chỉ có khái niệm về hợp đồng bị hủy bỏ. Theo đó hợp đồng bị hủy bỏ là hợp đông đã được giao kết nhưng bị coi là không có hiệu lực thực hiện nữa”. Khái niệm này tuy không trực tiếp nói về HBHĐ, nhưng qua đây ta cũng có thê hiéu phan nào về nội dung của nó. Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu nội hàm của HBHĐ qua khái niệm này thì chưa thực sự đầy đủ, chính xác và dé gây nhằm lẫn với ĐPCDHĐ hay tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Bởi lẽ, HBHĐ không chỉ đơn giản là một trong những căn cứ dẫn đến chấm dứt hợp đồng mà nó còn được coi là biện pháp chế tài được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra. Hơn nữa, việc sử dụng cụm từ hop đồng đã được giao két là chưa thực sự chính xác và không thé hiện được bản chất của HBHD, thay vào đó nên dùng cụm từ hop đồng đã được giao kết hợp pháp sẽ chính xác hơn, vì về bản chất hợp đồng trước khi bị hủy bỏ đã được giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu lực trên thực tế. * Từ điển giải thích từ ngữ luật học, Truong đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, tr68 Khái niệm HBHĐ cũng không được tìm thấy trong một số từ điển pháp lý nước ngoài bằng tiếng Anh, như quyên: “Dictionary of law — 3'“'ed”; “A Oxford Dictionary of Law — 5” ed” hay quyên: “4 Oxford Dictionary of Law — 4 ed”; “Black Law Dictionary — 6" ed”. Tuy nhiên, trong những quyền từ điển nay có giải thích về thuật ngữ “hy bỏ” (terminate/ termination).
Theo đó hủy bỏ được hiểu là chấm dứt, là đưa đến sự kết thúc của cái gì đó”. Về cơ bản, thông qua khái niệm về hủy bỏ này ta cũng có thê hiểu HBHĐ là làm cho hợp đồng cham dứt hay đưa đến sự kết thúc của hợp đồng. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ đơn thuần là cách hiểu về mặt thuật ngữ, chưa thể hiện được tính chất pháp lý của khái niệm. HBHĐ được đề cập đến khá nhiều trong các văn bản pháp luật về hợp đồng của nhiều quốc gia cũng như pháp luật hợp đồng quốc tế.
Tuy nhiên trong các văn bản này cũng không đưa ra khái niệm về HBHĐ mà chỉ quy định về căn cứ, hậu quả pháp lý, trình tự HBHD. Điều 1183, BLDS Pháp quy định: “Điều kiện huỷ bỏ là diéu kiện mà khi xảy ra thì nghĩa vụ bị huỷ bỏ và các bên phải khôi phục lại tinh trạng ban dau như chưa từng có cam kết. Diéu kiện huỷ bỏ không có hiệu lực hoãn lại việc thực hiện nghĩa vụ, mà chỉ buộc người có quyên phải hoàn trả những gi đã nhận trong trường hop sự kiện quy định trong điều xảy ra”. Như vậy, các bên có thé thoả thuận về điều kiện HBHD khi xác lập hợp đồng và nếu điều kiện này xảy ra thì hợp đồng sẽ bi cham dứt và các bên sẽ quay trở lại tình trạng ban đầu như chưa có hợp đồng, đồng thời xuất hiện quan hệ hoàn trả giữa các bên.
Tuy nhiên việc ủy bỏ hợp đồng phải do Toà án quyết định [9, Điều 1184].