Chương 1: Một số vấn dé lý luận về đương sự trong tổ tụng dân sự. Chương 2: Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đương sự. Chương 3: Thự: tiễn thực hiện, phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng dân sự về đương sự. Chương | MOT SO VAN DE LÝ LUAN VE DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ 1.
KHAI NIEM, DAC DIEM, VAI TRO CUA DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SU 1. Khái niệm đương sự trong tô tung dân sự Đương sự hiéu một cách chung nhất là “người là đối tuong trực tiếp Của mot việc đang được giải quyết” (103, tr. Còn trong cuốn Từ điển Hán Việt, đương sự được định nghĩa là người “có liên quan trực tiếp đến một việc ” 28, tr. Như vậy, đương sự là người có liên quan trực tiếp trong một vụ việc nào đó xảy ra đang được đưa ra xem xét, giải quyết trong cuộc sống hàng ngày.
Trước hết, với việc định nghĩa về đương sự trên đây có thé thấy “người” được xác định là đương sự không chỉ là cá nhân (chủ thể tự nhiên) mà còn bao gồm các chủ thể khác như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Để sống, để tồn tại và phát triển con người không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà buộc phải thiết lập các mối quan hệ với những người khác. Các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau được hình thành trong quá trình sản xuất, phân phối của cải vật chất, trong việc thoả mãn những nhu cầu văn hoá, tinh thần cũng như trong việc bảo vệ lợi ích của xã hội - được gọi là quan hệ xã hội [84, tr. Ban đầu là những mối quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, nhưng sau đó cùng với sự phát triển của xã hội loài người đã hình thành nên các tổ chức và các tổ chức đó trở thành chủ thể của các quan hệ xã hội.
Các quan hệ xã hội rất phong phú va da dạng: có thể là quan hệ trong gia đình (quan hệ giữa vợ với chồng, giữa cha mẹ với con, giữa anh chị em với nhau.), quan hệ về tài sản (quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau thông qua một tài sản như việc mua bán, tặng cho, thừa kế tài sản. , quan hệ về kinh doanh, thương mại, quan hệ lao động, quan hệ đạo đức, quan hệ về chính trị v. Sự phong phú và đa dạng của các loại chủ thể trong các quan hệ xã hội đã làm cho phạm vi các chu thé có thê được xác định là đương sự trong các vụ việc phát sinh trong đời sống xã hội sẽ ngày càng được mớ rộng. Đương sự trong vụ việc thông thường là các chủ thê độc lập trong một hoặc nhiều quan hệ đang được xem xét.
giải quyết trong vụ việc hoặc quan hệ phát sinh từ việc xem xét, giải quyết vụ việc đó. Vì vậy, muốn xác định được đầy đủ đương sự trong vụ việc thì cần phải xác định được những mối quan hệ phải được giải quyết trong vụ việc đó và những mối quan hệ có liên quan đến việc giải quyết vụ việc. Một vụ việc mà có nhiều mối quan hệ đan xen của nhiều chủ thể thì vụ việc đó có thể có nhiều đương sự tham gia và ngược lại trong vụ việc đó chỉ phải giải quyết một mối quan hệ giữa hai chủ thé thì chỉ hai bên chủ thé đó được xác định là đương su. Ngoài ra, đương sự trong một vụ việc phải là những chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc xem xét, giải quyết vụ việc đó.
Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác không phải là đương sự trong vụ việc khi không có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp VỚI VỤ VIỆC Cụ thể đang được giải quyết. Vi vậy, để xác định được day đủ những ai là đương su, trước hết cần xác định rõ bản chất của vụ việc mới có thể xác định được ai là chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp VỚI VIỆC giải quyết vụ việc đó. Tùy thuộc vào từng vụ việc mà thành phần các chủ thể được xác định là đương sự sẽ khác nhau: có những vụ việc mà việc giải quyết vụ Việc này có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhiều chủ thể, tuy nhiên có vụ việc thì việc giải quyết chỉ liên quan trực tiếp đến quyền lợi của hai bên chủ thể. Thông thường đương sự có quyền, lợi ích được giải quyết ngay trong vụ việc đó.
Tuy nhiên, đương sự cũng còn bao gồm cả những người mà quyền và lợi ích không được giải quyết ngay trong vụ việc nhưng kết quả giải quyết vụ việc nay có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của họ. Vì vậy, họ cũng phải được tham gia vào việc giải quyết Vụ VIỆC. Như vậy, có thể hiểu rằng, theo nghĩa rộng thì đương sự trong mot vụ việc là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc VÌ cO quyên, lợi ích liên quan dén việc giải quyết vụ việc. Vậy đương sự trong TTDS theo quan niệm của các nhà luật học là gì ? Hiện nay, có các quan niệm khác nhau vê đương sự.
Trong cuôn “Black’s Law Dictionnary”, đương sự được định nghĩa là: “người đưa ra hoặc chống lại người đưa ra việc kiện ` { 104, tr.515] hay trong cuốn Từ điển Luật học được xuất bản năm 1999 thì “đương sự là người có quyên, nghĩa vụ được giải quyết trong một khiếu nại hoặc một vụ án”[ L7, tr. Ngoài ra, theo cuốn Từ điển Luật học của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thì đương sự được giải thích như sau: “Ca nhân, pháp nhán tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, hoặc người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan. Duong sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhán gia đình và lao động. Những người tham gia TTDS đó bao gôm đương sự, người đại điện cho đương sự, người bảo vệ quyên lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vi lợi ích chung, VKS, người làm chứng, người phiên dich” [96, tr.
Qua những quan niệm trên đây, chúng ta có thé thay các nhà luật học đều có một quan niệm chung, đương sự là những người tham gia vào quá trình giải quyết VADS vì có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong VADS, bao gồm bên nguyên đơn, bên bị đơn. Tuy nhiên, các nhà luật học chưa đưa ra một khái niệm toàn diện về đương sự trong TTDS. Vì vậy, để có thể xây dựng được khái niệm đương sự trong TTDS thì trước hết chúng ta cần phải làm rõ TTDS là gì ? việc phân loại các đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS được xác định như thế nào ? những chủ thể nào có thể được xác định là đương sự 2 Thông thường tố tụng được hiểu là “việc kiện cáo trước toà án” [28, tr. Vi vậy, TTDS được hiểu là những việc kiện cáo nhau ra TA về các quan hệ dân sự và yêu cầu TA giải quyết.
Tuy nhiên, về mặt pháp lý, khái niệm “tố tụng dân sự” cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, tuỳ theo mô hình tố tụng và pháp luật của mỗi quốc gia thuộc mỗi hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới [1ó, tr. Quan niệm thứ nhất: Các nước trong hệ thống thông luật (Common Law), theo mô hình tố tụng tranh tụng, quan niệm TTDS là trình tự, thủ tục để giải quyết đối với tất cả các tranh chấp hành chính và các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Khi lấy ý kiến đóng góp dự thảo BLTTDS Việt Nam, có một số nhà nghiên cứu đồng tình với ý kién này [94]. Với quan niệm này, đương sự trong [TDS là người tham gia vào quá trình TA giải quyết các tranh chấp hành chính, tranh chấp dân sự, hôn nhân va gia đình, kinh doanh thirong mai, lao động.
Quan niệm thứ hai: Các nước theo hệ thông luật dân sự (Civil Law), theo m6 hình tố tụng xét hỏi do xuất phát từ việc phân chia hệ thống pháp luật thành công pháp và tư pháp lại cho rằng việc giải quyết các tranh chấp về quyền và lợi ích giữa một bên là Nhà nước đại diện với một bên là công dân nhăm buộc tội những hành vi vị phạm pháp luật hình sự, được coi là xâm phạm tới trật tự công cộng thì được giải quyết theo tố tụng hình sự, nếu là tranh chấp giữa người dân và Nhà nước mà liên quan đến các quyết định, hành vi hành chính thì giải quyết theo tố tụng hành chính. Các tranh chấp giữa người dân với nhau thuộc về tư pháp sẽ được giải quyết theo TTDS. Nhu vậy, theo quan niệm này thì TTDS là trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu phát sinh trong lĩnh vực tư như: dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động. Chúng tôi đồng tình với quan niệm thứ hai.
Bởi vì, xét về bản chất các ngành luật nội dung như luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại, luật lao động là các ngành luật tư, được đặc trưng bởi các chủ thé tham gia các quan hệ này bình đẳng với nhau. Do đó, việc giải quyết các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ các quan hệ này được thực hiện theo thủ tục TTDS. Luật hành chính có bản chất là ngành luật công, đặc trưng bởi quan hệ bat bình dang, vì vậy để giải quyết các tranh chấp hành chính cần có một thủ tục riêng để giải quyết - thủ tục tố tụng hành chính. Thực tiễn quá trình hoàn thiện pháp luật TTDS ở Việt Nam đã cho thấy các nhà làm luật ủng hộ quan niệm thứ hai này.
Trước khi BLTTDS 2004 có hiệu lực thi hành việc giải quyết các tranh chấp ở TA theo các thủ tục tổ tụng khác nhau và được quy định trong các văn bản khác nhau. Việc giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình theo thủ tục giải quyết các VADS được quy định trong PLTTGQCVADS 1989, giải quyết các tranh chấp kinh tế theo thủ tục giải quyết các VA kinh tế được quy định trong PLTTGQCVAKT 1994, giải quyết các tranh chấp lao động theo thủ tục giải quyết các tranh chap lao động được quy định trong PLTTGQCTCLĐ 1996.