Luận án tiến sĩ luật học cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở việt nam

Luận án tiến sĩ luật học phân tích cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học
209
9
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BA BÊN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

1.1. Tổng quan về cơ chế ba bên

1.2. Khái quát về cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động

1.3. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CƠ CHẾ BA BÊN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

2.1. Vận dụng cơ chế ba bên trong hoạt động xây dựng pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động

2.2. Vận dụng cơ chế ba bên trong việc thiết lập tổ chức, cơ quan giải quyết và trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN DỤNG CƠ CHẾ BA BÊN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

3.1. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam

3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam

3.3. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ chế ba bên và giải quyết tranh chấp lao động

Cơ chế ba bên là một mô hình quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp lao động, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường. Mô hình này bao gồm sự tham gia của ba bên: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Giải quyết tranh chấp lao động thông qua cơ chế này đảm bảo sự công bằng và hài hòa trong quan hệ lao động. Luận án tiến sĩ luật học này tập trung phân tích vai trò và hiệu quả của cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động.

1.1. Khái niệm và cơ sở pháp lý

Cơ chế ba bên được định nghĩa là một hệ thống tổ chức và hoạt động dựa trên sự tham gia của ba bên: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Cơ sở pháp lý của cơ chế này được xây dựng dựa trên các quy định của Luật lao động Việt Nam và các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ khái niệm và cơ sở pháp lý để áp dụng hiệu quả cơ chế này trong thực tiễn.

1.2. Vai trò của cơ chế ba bên

Cơ chế ba bên đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và hài hòa trong quan hệ lao động. Thông qua sự tham gia của ba bên, các tranh chấp lao động được giải quyết một cách công bằng và minh bạch. Luận án phân tích các phương thức giải quyết tranh chấp lao động như hòa giải lao độngtrọng tài lao động, đồng thời đánh giá hiệu quả của các phương thức này trong thực tiễn.

II. Thực trạng vận dụng cơ chế ba bên ở Việt Nam

Luận án đánh giá thực trạng vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam. Mặc dù đã có những bước tiến đáng kể, việc áp dụng cơ chế này vẫn còn nhiều hạn chế. Các quy định pháp luật chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ, dẫn đến hiệu quả giải quyết tranh chấp chưa cao. Luận án chỉ ra những khó khăn và thách thức trong quá trình vận dụng cơ chế này, đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả.

2.1. Vận dụng trong xây dựng pháp luật

Luận án phân tích việc vận dụng cơ chế ba bên trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam. Mặc dù đã có sự tham gia của ba bên trong quá trình này, các quy định vẫn còn thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Luận án đề xuất cần tăng cường sự tham gia của các bên trong quá trình xây dựng pháp luật để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả.

2.2. Vận dụng trong giải quyết tranh chấp

Luận án đánh giá hiệu quả của cơ chế ba bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động. Các phương thức như hòa giải lao độngtrọng tài lao động đã được áp dụng, nhưng hiệu quả còn hạn chế do thiếu sự phối hợp giữa các bên. Luận án đề xuất cần hoàn thiện quy trình giải quyết tranh chấp và tăng cường năng lực của các cơ quan giải quyết tranh chấp.

III. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam và nâng cao hiệu quả vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện quy định pháp luật, tăng cường năng lực của các bên tham gia và phê chuẩn các Công ước của ILO. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các giải pháp này để đảm bảo sự ổn định và hài hòa trong quan hệ lao động.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật

Luận án đề xuất cần hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động Việt Nam để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả. Các quy định cần được xây dựng dựa trên sự tham gia của ba bên và đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Luận án cũng đề xuất cần phê chuẩn các Công ước của ILO để tăng cường hiệu quả của cơ chế ba bên.

3.2. Tăng cường năng lực các bên tham gia

Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường năng lực của các bên tham gia trong cơ chế ba bên. Các bên cần được đào tạo và nâng cao năng lực để tham gia hiệu quả vào quá trình giải quyết tranh chấp lao động. Luận án cũng đề xuất cần thành lập các cơ quan giải quyết tranh chấp lao động theo cơ cấu ba bên để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả.

21/02/2025
Luận án tiến sĩ luật học cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Những vấn đề lí luận về cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động (gồm 2 mục); Chương 2: Thực trạng vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam (gồm 2 mục); Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam (gồm 2 mục). II Chương ] NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BA BÊN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG 1. TONG QUAN VỀ CƠ CHẾ BA BEN (Xem phụ lục 1) 1. Khái niệm và cơ sở của cơ chế ba bên 1.

Khái niệm cơ chế ba bên Theo Tw điển Tiếng Việt, cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” [98, tr. Tương tự như vậy, Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện” [6, tr. Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập khái niệm này. Trong cuốn Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO các nhà khoa học cho rằng, “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng” [25, tr.

Quan điểm cụ thể hơn về cơ chế được đề cập trong cuốn Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới - World Trade Organization. Theo các tác giả của cuốn sách này, nói đến cơ chế bao giờ cũng gồm hai mặt: bên ngoài (thể hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay trong nội tại của sự vật, hiện tượng). Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu tố tạo nên sự hoạt động cua sự vật, hiện tượng [35, tr.

Như vậy, về phương diện từ điển học và phương diện khoa học, dù cách tiếp cận của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể nhận thấy các quan điểm này đều chỉ ra hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ chế, đó là: yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Yếu tố tổ chức đề 12 cập các thành viên (chủ thể) tham gia, cách thức hình thành tổ chức và cách thức tổ chức hệ thống nội tại. Yếu tố hoạt động thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành viên (sự phân công và hợp tác giữa các thành viên) trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức, nguyên tắc vận hành của cơ chế và nội dung hoạt động của nó. Nói về cơ chế ba bên, David Macdonald và Caroline Vandenabeele (thuộc Đội chuyên gia tổng hợp Đông Á, Văn phòng lao động Quốc tế - ILO/EASMAT) đưa ra định nghĩa như sau: Cơ chế ba bên là sự tương tác tích cực của Chính phủ, NSDLĐ và NLD (qua các đại diện của họ) như là các bên bình dang và độc lập trong các cố gang tìm kiếm giải pháp cho các vấn dé cùng quan tâm.

Một quá trình ba bên có thể bao gồm việc tham khảo ý kiến, thương thuyết và/hoặc cùng ra quyết định, phụ thuộc vào cách thức đã được nhất trí giữa các bên liên quan. Những cách thức này có thể là đặc biệt theo từng vụ việc hoặc được thể chế hoá [28, tr. Phạm Công Trứ, bằng việc ký kết các hợp đồng lao động cá nhân giữa NLD và NSDLĐ hình thành nên quan hệ lao động cá nhân - hạt nhân của cơ chế hai bên truyền thống. Sau đó bằng việc thực hiện quyền tự do liên kết các tổ chức của cả phía NLD và NSDLĐ được hình thành.

Ở tầm quốc gia, đại điện của tổ chức này cùng với đại diện của Chính phủ có mối quan hệ với nhau để cùng bàn bạc và giải quyết những vấn đề có liên quan trong lĩnh vực lao động và xã hội. Trên cơ sở và khuôn khổ của mối quan hệ này hình thành một cơ chế mang tính pháp lí quốc tế, đó là cơ chế ba bên [83, tr. Đào Thị Hằng cho rằng, cơ chế ba bên là cơ chế phối hợp hoạt động giữa Chính phủ, đại diện NLD, NSDLD với tư cách là các bên độc lập và bình dang khi họ cùng tìm kiếm những giải pháp chung trong các vấn dé lao động, xã hội mà cả ba bên cùng quan tâm và nỗ lực giải quyết [34, tr. Tác giả của nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở nước ta đều cho rang định nghĩa trong ban báo cáo Dán chủ hoá và tổ chức của ILO do Tổng giám đốc ILO trình bày tại kỳ họp thứ 79, năm 1992 là định nghĩa chính thức cua ILO về cơ chế ba bên [16], [29], [84], [85], [97].

Định nghĩa đó như sau: Cơ chế ba bên có nghĩa là bất kỳ hệ thống các mối quan hệ lao động nào, trong đó Nhà nước, NSDLD, NLD là những nhóm độc lập, mỗi nhóm thực hiện những chức năng riêng. Điều đó chỉ đơn thuần là sự chuyển đổi thành các mối quan hệ xã hội của các nguyên tắc dân chủ chính trị: tự do, đa số, sự tham gia của mỗi cá nhân vào những quyết định có liên quan tới họ. Nguyên tắc là những vấn đề chung nhưng cũng không có một đối tác đơn lẻ: Mỗi hệ thống quan hệ lao động được dựa trên sự kết hợp của các điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội và văn hoá và mỗi hệ thống phát triển theo những nguyên tắc của cuộc chơi dưới ánh sáng của những thông số đó [56, tr. Như vậy, các quan điểm trên đây về cơ chế ba bên đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập các nội dung: bản chất, các đối tác xã hội, phạm vi hoạt động và sự vận hành của cơ chế ba bên.

Liên hệ với khái niệm “cơ chế” đã phân tích ở trên, các khái niệm và quan điểm về cơ chế ba bên cũng đã thể hiện được hai yếu tố cấu thành: yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Cơ cấu ba bên được tạo thành bởi ba "đối tác xã hội”: Nhà nước, NLD và NSDLD (thông qua cơ quan, tổ chức đại diện chính thức của các chủ thể này). Quá trình vận hành của cơ chế ba bên chính là quá trình hợp tác giữa ba đối tác xã hội trong việc nỗ lực tìm kiếm các giải pháp chung cho các vấn đề mà cả bên cùng quan tâm trong lĩnh vực lao động - xã hội. Từ những phân tích, đánh giá trên đây, có thể hiểu cơ chế ba bên là quá trình dân chủ hoá mốt quan hệ lao động, quá trình hợp tác, chia sẻ quyền lực và cộng động trách nhiệm giữa Nhà nước, NLĐ và NSDLĐ (thông qua các dai diện chính thức của họ) dưới những hình thức phù hợp voi điều kiện kinh tế- xã hội, chính trị và pháp lí.nhằm tìm kiếm giải pháp chung cho các vấn 14 đề thuộc lĩnh vực lao động - xã hội, trước hết là các vấn đề thuộc mối quan hệ lao động mà ca ba bên cùng quan tâm, vi lợi ích của mỗi bên, lợi ích chung của ba bên và lợi ích chung của xã hội.

Bên cạnh khái niệm cơ chế ba bên có một số khái niệm khác, như: “cơ chế hai bên”, “thương lượng tập thể” và “đối thoại xã hội”. Tuy có những khác biệt nhất định, nhưng các khái niệm này có mối quan hệ với nhau. Theo các tác giả của cuốn Thuật ngữ quan hệ công nghiệp và các khái niệm có liên quan, cơ chế hai bên là “bất kì quá trình nào mà bằng cách đó những sự dàn xếp hợp tác trực tiếp giữa NSDLĐ và NLĐ (hoặc các tổ chức của họ) được thành lập, được khuyến khích và được tán thành” [28, tr. Còn thương lượng tập thể là quá trình mà qua đó NSDLĐ hoặc một nhóm NSDLĐ và một hoặc nhiều tổ chức của NLD hoặc các đại diện của ho tự nguyện thảo luận và thương lượng với nhau về các chế độ và điều kiện làm việc mà hai bên đều chấp nhận và có giá trị trong một thời gian xác định [28, tr.

Với cách hiểu như vậy, thương lượng tập thể như là một cách thức vận hành cơ chế hai bên. Nói chính xác hơn, thương lượng tập thể là sự chuyển tải một biểu hiện cụ thể của cơ chế hai bên, bởi vì thương lượng tập thể chính là sự đàn xếp hợp tác irực tiếp giữa NSDLD và NLD (hoặc các tổ chức của họ) về chế độ và điều kiện làm việc vì lợi ích riêng của mỗi bên và vì lợi ích chung mà hai bên cùng tìm kiếm. Ở góc độ nào đó cũng có thể hiểu thương lượng tập thể chính là cốt lõi của cơ chế hai bên [97, tr. Tuy nhiên, cơ chế hai bên không phải khi nào cũng chỉ gói gọn trong thương lượng tập thể, bởi vì cơ chế hai bên còn bao gồm các quá trình mà trong đó mọi sự dàn xếp, giải quyết các vấn đề được thực hiện trực tiếp bởi cá nhân NLD và NSDLĐ.

Với cơ chế hai bên hay thương lượng tập thể, Nha nước đóng vai trò là người tạo cơ sở pháp lí, bảo dam cho chúng được thực thi và được bảo vệ. Trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước sẽ “vào cuộc” để dàn xếp những bất đồng mà các bên không tự giải quyết được. Điều này cho 15 thấy, điểm khác biệt lớn nhất của cơ chế hai bên và thương lượng tập thể so với cơ chế ba bên chính là ở chỗ Nhà nước không tham gia cơ chế hai bên hay thương lượng tập thể với tư cách là một “đối tác xã hội” đặc biệt như khi tham gia cơ chế ba bên. Tuy nhiên, cơ chế hai bên hay thương lượng tập thể cũng có thể được xem là một phần (là nền tang) của cơ chế ba bên và ở mức độ nào đó, cơ chế hai bên hay thương lượng tập thể cũng được sử dụng để chỉ sự vận hành của cơ chế ba bên theo nghĩa rộng [97, tr.

Khái niệm đối thoại xã hội lúc đầu được sử dụng để chỉ cách thức vận hành của cơ chế ba bên. Gần đây, khái niệm này trong những trường hợp cụ thể đã được sử dụng với nghĩa rộng hơn. Điều này đã gây ra những tranh luận giữa các nhóm khác nhau trong xã hội. Nổi lên là hai nhóm có xu hướng đối lập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cơ Chế Ba Bên Giải Quyết Tranh Chấp Lao Động Ở Việt Nam | Luận Án Tiến Sĩ Luật Học là một nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tại Việt Nam, tập trung vào mô hình ba bên bao gồm nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động. Tài liệu này phân tích các quy định pháp lý hiện hành, thực tiễn áp dụng và đề xuất cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của từng bên trong quá trình này, cũng như cách thức để đảm bảo công bằng và hài hòa lợi ích.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của pháp luật liên quan đến tranh chấp, hãy khám phá thêm Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của tòa án nhân dân tỉnh phú thọ hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình giải quyết tranh chấp thương mại. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về tổ chức tín dụng là hợp tác xã cũng là một tài liệu hữu ích để mở rộng kiến thức về pháp luật trong lĩnh vực tín dụng và hợp tác xã.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống pháp luật Việt Nam.