Chương I: Những vấn đề lí luận về cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động (gồm 2 mục); Chương 2: Thực trạng vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam (gồm 2 mục); Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả vận dụng cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam (gồm 2 mục). II Chương ] NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BA BÊN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG 1. TONG QUAN VỀ CƠ CHẾ BA BEN (Xem phụ lục 1) 1. Khái niệm và cơ sở của cơ chế ba bên 1.
Khái niệm cơ chế ba bên Theo Tw điển Tiếng Việt, cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” [98, tr. Tương tự như vậy, Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện” [6, tr. Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập khái niệm này. Trong cuốn Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO các nhà khoa học cho rằng, “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng” [25, tr.
Quan điểm cụ thể hơn về cơ chế được đề cập trong cuốn Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới - World Trade Organization. Theo các tác giả của cuốn sách này, nói đến cơ chế bao giờ cũng gồm hai mặt: bên ngoài (thể hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay trong nội tại của sự vật, hiện tượng). Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu tố tạo nên sự hoạt động cua sự vật, hiện tượng [35, tr.
Như vậy, về phương diện từ điển học và phương diện khoa học, dù cách tiếp cận của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể nhận thấy các quan điểm này đều chỉ ra hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ chế, đó là: yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Yếu tố tổ chức đề 12 cập các thành viên (chủ thể) tham gia, cách thức hình thành tổ chức và cách thức tổ chức hệ thống nội tại. Yếu tố hoạt động thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành viên (sự phân công và hợp tác giữa các thành viên) trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức, nguyên tắc vận hành của cơ chế và nội dung hoạt động của nó. Nói về cơ chế ba bên, David Macdonald và Caroline Vandenabeele (thuộc Đội chuyên gia tổng hợp Đông Á, Văn phòng lao động Quốc tế - ILO/EASMAT) đưa ra định nghĩa như sau: Cơ chế ba bên là sự tương tác tích cực của Chính phủ, NSDLĐ và NLD (qua các đại diện của họ) như là các bên bình dang và độc lập trong các cố gang tìm kiếm giải pháp cho các vấn dé cùng quan tâm.
Một quá trình ba bên có thể bao gồm việc tham khảo ý kiến, thương thuyết và/hoặc cùng ra quyết định, phụ thuộc vào cách thức đã được nhất trí giữa các bên liên quan. Những cách thức này có thể là đặc biệt theo từng vụ việc hoặc được thể chế hoá [28, tr. Phạm Công Trứ, bằng việc ký kết các hợp đồng lao động cá nhân giữa NLD và NSDLĐ hình thành nên quan hệ lao động cá nhân - hạt nhân của cơ chế hai bên truyền thống. Sau đó bằng việc thực hiện quyền tự do liên kết các tổ chức của cả phía NLD và NSDLĐ được hình thành.
Ở tầm quốc gia, đại điện của tổ chức này cùng với đại diện của Chính phủ có mối quan hệ với nhau để cùng bàn bạc và giải quyết những vấn đề có liên quan trong lĩnh vực lao động và xã hội. Trên cơ sở và khuôn khổ của mối quan hệ này hình thành một cơ chế mang tính pháp lí quốc tế, đó là cơ chế ba bên [83, tr. Đào Thị Hằng cho rằng, cơ chế ba bên là cơ chế phối hợp hoạt động giữa Chính phủ, đại diện NLD, NSDLD với tư cách là các bên độc lập và bình dang khi họ cùng tìm kiếm những giải pháp chung trong các vấn dé lao động, xã hội mà cả ba bên cùng quan tâm và nỗ lực giải quyết [34, tr. Tác giả của nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở nước ta đều cho rang định nghĩa trong ban báo cáo Dán chủ hoá và tổ chức của ILO do Tổng giám đốc ILO trình bày tại kỳ họp thứ 79, năm 1992 là định nghĩa chính thức cua ILO về cơ chế ba bên [16], [29], [84], [85], [97].
Định nghĩa đó như sau: Cơ chế ba bên có nghĩa là bất kỳ hệ thống các mối quan hệ lao động nào, trong đó Nhà nước, NSDLD, NLD là những nhóm độc lập, mỗi nhóm thực hiện những chức năng riêng. Điều đó chỉ đơn thuần là sự chuyển đổi thành các mối quan hệ xã hội của các nguyên tắc dân chủ chính trị: tự do, đa số, sự tham gia của mỗi cá nhân vào những quyết định có liên quan tới họ. Nguyên tắc là những vấn đề chung nhưng cũng không có một đối tác đơn lẻ: Mỗi hệ thống quan hệ lao động được dựa trên sự kết hợp của các điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội và văn hoá và mỗi hệ thống phát triển theo những nguyên tắc của cuộc chơi dưới ánh sáng của những thông số đó [56, tr. Như vậy, các quan điểm trên đây về cơ chế ba bên đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập các nội dung: bản chất, các đối tác xã hội, phạm vi hoạt động và sự vận hành của cơ chế ba bên.
Liên hệ với khái niệm “cơ chế” đã phân tích ở trên, các khái niệm và quan điểm về cơ chế ba bên cũng đã thể hiện được hai yếu tố cấu thành: yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Cơ cấu ba bên được tạo thành bởi ba "đối tác xã hội”: Nhà nước, NLD và NSDLD (thông qua cơ quan, tổ chức đại diện chính thức của các chủ thể này). Quá trình vận hành của cơ chế ba bên chính là quá trình hợp tác giữa ba đối tác xã hội trong việc nỗ lực tìm kiếm các giải pháp chung cho các vấn đề mà cả bên cùng quan tâm trong lĩnh vực lao động - xã hội. Từ những phân tích, đánh giá trên đây, có thể hiểu cơ chế ba bên là quá trình dân chủ hoá mốt quan hệ lao động, quá trình hợp tác, chia sẻ quyền lực và cộng động trách nhiệm giữa Nhà nước, NLĐ và NSDLĐ (thông qua các dai diện chính thức của họ) dưới những hình thức phù hợp voi điều kiện kinh tế- xã hội, chính trị và pháp lí.nhằm tìm kiếm giải pháp chung cho các vấn 14 đề thuộc lĩnh vực lao động - xã hội, trước hết là các vấn đề thuộc mối quan hệ lao động mà ca ba bên cùng quan tâm, vi lợi ích của mỗi bên, lợi ích chung của ba bên và lợi ích chung của xã hội.
Bên cạnh khái niệm cơ chế ba bên có một số khái niệm khác, như: “cơ chế hai bên”, “thương lượng tập thể” và “đối thoại xã hội”. Tuy có những khác biệt nhất định, nhưng các khái niệm này có mối quan hệ với nhau. Theo các tác giả của cuốn Thuật ngữ quan hệ công nghiệp và các khái niệm có liên quan, cơ chế hai bên là “bất kì quá trình nào mà bằng cách đó những sự dàn xếp hợp tác trực tiếp giữa NSDLĐ và NLĐ (hoặc các tổ chức của họ) được thành lập, được khuyến khích và được tán thành” [28, tr. Còn thương lượng tập thể là quá trình mà qua đó NSDLĐ hoặc một nhóm NSDLĐ và một hoặc nhiều tổ chức của NLD hoặc các đại diện của ho tự nguyện thảo luận và thương lượng với nhau về các chế độ và điều kiện làm việc mà hai bên đều chấp nhận và có giá trị trong một thời gian xác định [28, tr.
Với cách hiểu như vậy, thương lượng tập thể như là một cách thức vận hành cơ chế hai bên. Nói chính xác hơn, thương lượng tập thể là sự chuyển tải một biểu hiện cụ thể của cơ chế hai bên, bởi vì thương lượng tập thể chính là sự đàn xếp hợp tác irực tiếp giữa NSDLD và NLD (hoặc các tổ chức của họ) về chế độ và điều kiện làm việc vì lợi ích riêng của mỗi bên và vì lợi ích chung mà hai bên cùng tìm kiếm. Ở góc độ nào đó cũng có thể hiểu thương lượng tập thể chính là cốt lõi của cơ chế hai bên [97, tr. Tuy nhiên, cơ chế hai bên không phải khi nào cũng chỉ gói gọn trong thương lượng tập thể, bởi vì cơ chế hai bên còn bao gồm các quá trình mà trong đó mọi sự dàn xếp, giải quyết các vấn đề được thực hiện trực tiếp bởi cá nhân NLD và NSDLĐ.
Với cơ chế hai bên hay thương lượng tập thể, Nha nước đóng vai trò là người tạo cơ sở pháp lí, bảo dam cho chúng được thực thi và được bảo vệ. Trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước sẽ “vào cuộc” để dàn xếp những bất đồng mà các bên không tự giải quyết được. Điều này cho 15 thấy, điểm khác biệt lớn nhất của cơ chế hai bên và thương lượng tập thể so với cơ chế ba bên chính là ở chỗ Nhà nước không tham gia cơ chế hai bên hay thương lượng tập thể với tư cách là một “đối tác xã hội” đặc biệt như khi tham gia cơ chế ba bên. Tuy nhiên, cơ chế hai bên hay thương lượng tập thể cũng có thể được xem là một phần (là nền tang) của cơ chế ba bên và ở mức độ nào đó, cơ chế hai bên hay thương lượng tập thể cũng được sử dụng để chỉ sự vận hành của cơ chế ba bên theo nghĩa rộng [97, tr.
Khái niệm đối thoại xã hội lúc đầu được sử dụng để chỉ cách thức vận hành của cơ chế ba bên. Gần đây, khái niệm này trong những trường hợp cụ thể đã được sử dụng với nghĩa rộng hơn. Điều này đã gây ra những tranh luận giữa các nhóm khác nhau trong xã hội. Nổi lên là hai nhóm có xu hướng đối lập.