chương 1, nhóm tác giả đã trình bày tổng quan về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và kết cấu của nghiên cứu. Trong phần chương tiếp theo, tác giả sẽ tìm hiểu, nghiên cứu sâu về các cơ sở lý luận của hiệu quả công việc, động lực làm việc và các lý thuyết liên quan. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Hiệu quả công việc Khái niệm về hiệu quả công việc của người lao động có thể được liên kết với một số quan điểm lý thuyết bao gồm: lý thuyết hệ thống, lý thuyết tâm lý, lý thuyết kinh tế, lý thuyết cải tiến hiệu quả công việc,. Nhìn chung, nghiên cứu này được liên kết chặt chẽ với lý thuyết cải tiến hiệu quả công việc.
Lý thuyết này được xây dựng dựa trên lý thuyết xã hội học và nhấn mạnh rằng bất kỳ sáng kiến phát triển nguồn nhân lực nào đều phải gắn liền với các mục tiêu chiến lược của tổ chức như một phươg pháp để cải thiện hiệu quả (Swanson, 1995). Như vậy, hiệu quả công việc là kết quả công việc được đánh giá dựa trên chi phí của các phương tiện liên quan dùng để thực hiện công việc, hiệu quả công việc liên quan đến kết quả cuối cùng và nhắm đến việc đạt được những mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Thời gian qua, có nhiều tài liệu nghiên cứu về hiệu quả công việc, tuy nhiên các nghiên cứu tùy theo bối cảnh khác nhau mà trình bày khái niệm về hiệu quả công việc khác nhau, chưa có một khái niệm thống nhất về hiệu quả công việc. Một số nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “Job performance” (hiệu quả công việc), một số nghiên cứu sử dụng thuật ngữ “Employee performance” (hiệu quả người lao động).
Hiệu quả công việc của người lao động là những đóng góp của bản thân họ nhằm đạt đươc mục tiêu chung của tổ chức, doanh nghiệp. Theo Anderson và Oliver (1987), hiệu quả công việc của người lao động có thể được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn thái độ (behavior-based standards) hoặc dựa trên tiêu chuẩn kết quả (outcome-based standards). Theo Elias và Scarbrough (2004), trong các chuyên ngành về quản trị và nhân sự, hiệu quả làm việc của nhân viên được xác định như một tiêu chí đánh giá khả năng và kết quả công việc của người lao động trong việc xây dựng các hệ thống lương, thưởng, kiểm tra và kiểm soát chất lượng lao động trong các doanh nghiệp. Hiệu quả công việc là công việc liên quan đến các hoạt động được mong muốn của một người lao động và những hoạt động đó được thực thi tốt như thế nào.
Là kết quả của một quá trình, sự hoàn thành nhiệm vụ được giao với một mức chất lượng đạt yêu 8 cầu so với các mục tiêu đề ra. Hành vi này được thực hiện bởi từng cá nhân riêng lẻ, xuất phát bằng việc được giao trách nhiệm thực hiện từ tổ chức và kết quả công việc có thể đo lường được.2 Vai trò của hiệu quả công việc Hiệu quả công việc rất quan trọng vì nó đo lường hiệu suất của từng người lao động (Muhammad, 2016). Nó cũng đóng vai trò chính trong hầu hết các quyết định nhân sự như trả lương dựa trên thành tích, thăng chức và giữ chân người lao động (Scullen, Goff, & Mount, 2000). Theo Campbell và cộng sự (1990) xác định hai mặt của hiệu quả công việc, một mặt đề cập đến mặt hành động và một mặt đề cập đến kết quả.
Hiệu quả công việc còn được hiểu là “mức độ năng suất của một cá nhân, tương đối so với các đồng nghiệp của mình, về một số hành vi liên quan đến công việc và kết quả” (Babin & Boles, 1998) hay là hành động và hành vi của cá nhân góp phần vào các mục tiêu của tổ chức (Rotundo & Sackett, 2002).3 Động lực làm việc Theo Kreitner (1995) cho rằng, "Động lực là một quá trình tâm lí mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định". Các nhà nghiên cứu phân tích, đánh giá rằng, động lực là tập hợp cả một quá trình nội tại, nó giúp thúc đẩy tinh thần, giúp định hướng đúng đắn và duy trì hành động công việc một cách liên tục và hiệu quả. Động lực làm việc là một tập hợp các lực lượng tràn đầy năng lượng bắt nguồn từ bên trong cũng như bên ngoài một bản thể của cá nhân và xác định hình thức, hướng, cường độ và thời gian của một công việc liên quan đến hành vi. Động lực là một trạng thái và lực lượng bên trong, khuyến khích cá nhân thực hiện hoạt động.
Điều gì được coi là quan trọng như một động lực cho một cá nhân hoặc một nhóm cụ thể có thể không quan trọng đối với cá nhân hoặc nhóm khác. Nói cách khác, cá nhân hoạt động là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến về động lực (Latham & Pinder, 2005) Theo nhóm tác giả Gundry (2007) cũng cho rằng, động lực hàm chứa cả bên trong lẫn bên ngoài. Động lực bên tạo ra động cơ thúc đẩy sự khao khát, sự tìm hiểu, sự sáng tạo ra những 9 cái mới, nằm mục đích tìm kiếm những cơ hội phát triển phát triển cho cá nhân nâng cao chuyên môn của mình. Động lực bên ngoài bao gồm các nhân tố, yếu tố: môi trường, chính sách, pháp luật,… ảnh hưởng vào mỗi cá nhân, tạo ra cho họ sự khát khao làm việc.
Cũng theo Nguyễn Xuân Lan (2010), việc tạo động lực tạo ra môi trường để phấn đấu, kích thích cho hành động, nhằm động viên, cổ vũ, khích lệ những cố gắng của người lao động mà họ đạt được trong xuyên suốt quá trình lao động. Như vậy hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc: Động lực là sự khao khát và tự nguyện của con người để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó trong quá trình làm việc.4 Vai trò động lực Theo Bessell và cộng sự (2002) thì động lực là một trong những công cụ quan trọng nhất để tạo ra để nhân viên đạt được một kết quả hiệu quả và tạo ra một công việc tích cực môi trường và thực hiện thành công. Động lực là một trong những vấn đề chính trong khoa học hành vi và dựa trên vị trí quan trọng và vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức (Barzoki, 2012). Vì vậy theo nghiên cứu một số học thuyết trên, theo quan điểm quản trị trên ta thấy được động lực có vai trò rất lớn và quan trọng trong việc quyết định hành vi người lao động.
Theo Ifinedo (2003) cho rằng để người lao động có động lực, mục tiêu phấn đấu thì cần xây dựng, thực hiện các công việc cụ thể để họ hiểu rõ động lực có liên quan đến việc mong muốn đạt kết quả tốt với họ thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong quá trình lao động sản xuất kinh doanh, người lao động có động lực làm việc càng cao sẽ giúp cho doanh nghiệp, công ty đạt được mục tiêu đề ra dễ dàng hơn và có thể cao hơn mong đợi. Và Lapeniene (2012) cũng nhấn mạnh và đề cao tầm quan trọng của động lực bên trong đến các ý tưởng, thay đổi hợp lý và sáng tạo tại nơi mà họ làm việc. Bằng kết quả nghiên cứu ông đã chỉ ra và chứng minh cụ thể rằng người lao động sẽ được kích thích sự sáng tạo hơn tại môi trường làm việc mà họ cảm thấy hài lòng và thích thú.
Động lực thúc đẩy hành vi ở hai góc độ trái ngược nhau đó là tích cực và tiêu cực. Người lao động có động lực tích cực thì sẽ tạo ra được một tâm lý làm việc tốt, lành mạnh đồng 10 thời cũng góp phần làm cho doanh nghiệp ngày càng vững mạnh hơn. Người lao động sẽ có những hành vi tích cực trong việc hoàn thiện mình thông qua công việc. Tạo động lực luôn là vấn đề nan giải cần quan tâm của mỗi nhà quản trị.
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu các chính sách lương thưởng, chế độ phúc lợi có phù hợp hay chưa? Công việc được phân chia có phù hợp cho từng cá nhân hay không? Có làm thỏa mãn được nhu cầu cơ bản của người lao động hay không? Dựa theo một số học thuyết đã được nghiên cứu, kết quả và hàm ý quản trị cho thấy động lực có vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi người lao động. Người lao động sẽ có những hành vi tích cực, ý thức tốt trong việc điều chỉnh và hoàn thiện mình thông qua công việc. Tạo động lực luôn là vấn đề cấp thiết đặt ra khi điều hành một doanh nghiệp. Nhà quản trị phải luôn tìm hiểu làm thế nào để tăng năng suất trong điều kiện nguồn nhân lực ấy, phải luôn tìm ra các yếu tố mới mẻ để kích thích động lực tìềm năng trong bản thân người lao động.5 Khái niệm về người lao động Theo Bộ Luật Lao Động Việt Nam (2019) , người lao động là người phải đủ 15 tuổi, có đủ khả năng lao động và có kết giao hợp đồng lao động.
Trên thực tế có hai loại chức danh dành cho người lao động đó là chức danh nhân viên ngoài khu vực tư thường được gọi là nhân viên của doanh nghiệp, được ký kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp, được trả lương theo quy định và chịu sự quản lý của doanh nghiệp, người lao động thuộc khu vực công thường được gọi với chức danh là cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, chịu sự quản lý của nhà nước và được hưởng lương theo chức danh. Tuy nhiên, theo các một số chính sách ban hành hiện nay, vẫn có những hợp đồng lao động thuộc khối công được chức danh là nhân viên. Theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 cho biết: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách 11 nhà nước”.