MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nguồn lực con người là nguồn lực quý giá của mỗi tổ chức; tổ chức có phát huy được thế mạnh và thành công hay không phụ thuộc cách thức khai thác và sử dụng nguồn nhân lực phù hợp và hiệu quả. Tuy nhiên không phải tổ chức nào cũng huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Trong xu thế hiện nay, các giải pháp để phát huy hết tiềm năng của người lao động vẫn còn nhiều vẫn đề cần hoàn thiện thêm; đặc biệt, trong khu vực công để có được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển.
Một trong những yêu cầu tất yếu đó là phải tạo được động lực cho đội ngũ người lao động trong tổ chức. Tại Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương, trong 03 năm gần đây áp lực công việc tăng lên rất nhiều. Năm 2016 cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Văn phòng đã tham mưu ban hành trên 11.400 văn bản (tăng 9,6% so với năm 2016) và đến năm 2018 tham mưu trên 14. Bên cạnh đó đã tham mưu xây dựng nội dung, tổ chức hậu cần cho hơn 200 cuộc họp trong năm 2016, gần 250 cuộc họp trong năm 2017 và năm 2018 là trên 300 cuộc họp.
Tất cả hoạt động trên được thực hiện trong điều kiện cơ sở vật chất và nhân sự không thay đổi, thậm chí trong điều kiện nhân sự thiếu do phải đi học tập trung, nghỉ hưu, chuyển công tác,… Do đó tạo áp lực rất lớn cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại đơn vị. Ngoài ra, Văn phòng đang triển khai Đề án 1659 ngày 15/10/2018 về Sắp xếp tổ chức bộ máy của Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương theo Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, khóa XII; dự kiến đến năm 2021 Văn phòng còn 58 biên chế (giảm 32 biên chế so với năm 2018). Qua đó tạo áp lực công việc lên những người đang làm việc còn lại càng tăng cao hơn rất nhiều, họ phải choàng gánh công việc của đồng nghiệp trước đây (đã nghỉ việc); trong khi thu nhập thực tế không tăng hoặc tăng rất chậm theo thâm niên. Điều này khiến tác động không nhỏ đến tâm lý các cán bộ, công chức, viên chức và người 1 lao động cũng như ảnh hưởng đến chất lượng công việc.
Đề án tinh giảm biên chế gắn với việc sáp nhập các phòng chuyên môn, nhiều vị trí lãnh đạo không còn tồn tại. Từ đó, gây áp lực tâm lý rất nhiều cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động cấp phòng; nhất là những công chức trước đây họ đã từng là lãnh đạo ở các phòng tương đương nay phải quay về vị trí cán bộ, công chức, viên chức và người lao động cấp dưới. Tại Văn phòng UBND tỉnh, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là đầu mối tham mưu giúp việc cho lãnh đạo UBND tỉnh và chịu trọng trách quan trọng trong giải quyết các vấn đề đối nội, đối ngoại toàn Tỉnh. Lực lượng này là công bộc của dân, là người thực thi chính sách của Nhà nước, là người đại diện cho quyền lợi của nhân dân.
Đội ngũ này là những người đóng góp sức mình vào công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Muốn được như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại Văn phòng phải không ngừng học hỏi, trao dồi các kiến thức, phát huy nội lực của bản thân để tạo sức mạnh cho tập thể cũng như duy trì năng suất và động lực làm việc. Vì những lý do trên, nghiên cứu để tạo động lực thúc đẩy người lao động mang ý nghĩa cần thiết. Luận văn lựa chọn nội dung "Nâng cao động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương" để làm đề tài cuối khóa.
Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, phân tích thực trạng, đề xuất các giải pháp nâng cao động lực làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể - Hệ thống hóa lý thuyết về động lực làm việc, các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc và các mô hình nghiên cứu trước đây. 2 - Phân tích thực trạng động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương. - Đề xuất các giải pháp nâng cao động lực làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.3 Câu hỏi nghiên cứu - Cơ sở lý thuyết và các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động là gì? - Phân tích thực trạng động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương như thế nào? - Giải pháp nào tạo động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương có hiệu quả? 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp nâng cao động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương. - Đối tượng khảo sát: Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc tại Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.2 Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc tại Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ tháng 3/2019 đến tháng 8/2019, luận văn sử dụng dữ liệu của các báo cáo từ năm 2016 đến năm 2018. Thời gian thu thập dữ liệu và phát phiếu khảo sát trong tháng 6 năm 2019.1 Khái niệm về động lực và tạo động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động 1.1 Khái niệm về động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Khái niệm về “động lực” là một trong những chủ đề được rất nhiều học giả trong nước và trên thế giới quan tâm khi nghiên cứu về hành vi tổ chức. Khái quát động lực thể hiện qua các nghiên cứu sau: - Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2010): Động lực là sự khao khát, tự nguyện của cá nhân nhằm tăng cường sự nỗ lực của cá nhân để đạt được mục tiêu hay kết quả nào đó. - Theo Bùi Anh Tuấn (2011): Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc nhằm tạo ra năng suất hiệu quả cao, sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc để đạt được mục đích của tổ chức, mục đích của bản thân người lao động.
- Theo Pia DiPaola Clark (2010): Động lực là một khái niệm liên quan đến việc tìm hiểu tại sao con người lại suy nghĩ và hành động như vậy. Động lực đóng vai trò giải thích cho những hành động của con người. - Theo Broussard và Garrison (2004): Động lực là đặc tính nào đó từ bên trong khiến chúng ta làm hoặc không làm một điều gì đó. - Theo Deci et.al (1999): Động lực nội tại đem lại năng lượng và sự bền bỉ trong hành động cho con người thông qua sự thỏa mãn tự thân gắn liền với hành động hiệu quả theo ý chí.
Các học giả nước ngoài đều cho rằng động lực được chia thành hai mảng chính gồm: động lực nội tại và động lực ngoại vi. Động lực liên quan đến niềm tin, quan điểm, giá trị, sở thích và hành động có quan hệ trực tiếp với nhau., Blanchard, K (1969): Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó.A (`1995): Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Từ những khái niệm, học viên nhận thức khái niệm cơ bản về động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong tổ chức là: “Động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động là những nhân tố kích thích,thúc đẩy cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thực hiện công việc của mình nhằm đem lại mục tiêu hoạt động của tổ chức, mục đích của cá nhân”.
Mỗi cá nhân khác nhau có động lực khác nhau và khi có động lực thúc đẩy họ sẽ nỗ lực hết sức để đạt được những mong muốn, mục đích của mình. Luận văn cho rằng khái niệm này phù hợp với thực tế của Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương. Động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương có mối quan hệ với các yếu tố kích thích, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ như: Lương; Đào tạo - thăng tiến; Khen thưởng; Lãnh đạo cấp trên; Môi trường làm việc; Phúc lợi đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Khái niệm về tạo động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Theo Nguyễn Hữu Lam (2006): Tạo động lực được hiểu là những yếu tố kích thích, thúc đẩy con người và xã hội vận động, phát triển theo hướng tiến bộ.Tạo động lực là các biện pháp, ứng xử của doanh nghiệp và của nhà quản lý để tạo ra môi trường nhằm nuôi dưỡng và phát triển sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Theo Nguyễn Xuân Lan (2010): Tạo động lực là quá trình tạo ra môi trường để kích thích cho hành động, động viên những cố gắng của người lao động; Theo Bùi Anh Tuấn (2011): Động lực của người lao động là những nhân 5 tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2013): Tạo động lực làm việc được hiểu là hệ thống chính sách, biện pháp thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm con người lao động có động lực trong công việc.