Chương 1 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 1. Mối quan hệ giữa hoạt động xét hỏi với thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm chức năng và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân * Về chức năng: Trước hết, có nhiều quan niệm định nghĩa chức năng chính là những phương diện hoạt động mang tính chất cơ bản, xuất phát từ bản chất của sự vật, hiện tượng, có ý nghĩa xã hội của việc giải quyết các nhiệm vụ được đặt ra, là phương diện hoạt động để thực hiện nhiệm vụ của mình. Chức năng của cơ quan nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu có tính chất cơ bản và lâu dài của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn luật định để phục vụ việc thực hiện chức năng chung của bộ máy nhà nước.
Cũng như nhiều cơ quan nhà nước khác ở từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội khác nhau thì Nhà nước cũng giao cho chức năng khác nhau. Hiến pháp 1946, quy định cơ quan công tố nằm trong hệ thống tổ chức của tòa án. Các công tố viên có thẩm quyền tư pháp cảnh sát (điều tra hình sự). Chức năng chính của cơ quan công tố là nhân danh công quyền để buộc tội đối với người phạm tội.
Khi tham gia phiên tòa, các công tố viên có phải thi hành mọi phương thức để chứng tỏ sự thật của vụ án. Đến Hiến pháp năm 1959, hệ thống cơ quan Công tố được tách dần khỏi hệ thống cơ quan Tòa án và sự ra đời của của tên gọi Viện kiểm sát nhân dân. Tiếp sau đó, năm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Đây là hệ thống cơ quan nhà nước chịu sự lãnh 7 đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Độc lập với hệ thống cơ quan xét xử và các cơ quan hành chính khác.
Viện kiểm sát có nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự như cơ quan Công tố trước đây, đồng thời kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ, cơ quan nhà nước ở địa phương, các nhân viên Nhà nước và công dân. Tiếp đó tại các bản Hiến pháp 1980 và 1992 từng bước có quy định rõ ràng hơn về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát. Đó là Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước, công dân; thực hành quyền công tố và bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất còn gọi là kiểm sát chung. Điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi chức năng của các cơ quan nhà nước cũng phải thay đổi cho phù hợp với hoạt động trong tình hình mới.
Trong đó hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân. Điều đó được thể hiện qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 có ghi nhận: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp". Trong đó chức năng của Viện kiểm sát được điều chỉnh theo hướng đề cao chức năng công tố so với giai đoạn trước đây và thu hẹp chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân bằng chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Theo đó, tại điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: Viện kiểm sát nhân dân có chức năng "thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp".
Từ quy định 8 của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 có nội dung thể hiện “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật”. Theo tiến trình cải cách tư pháp của Bộ Chính trị trong đó cải cách cải cách các cơ quan tư pháp nhằm mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với việc ban hành Nghị quyết số 08/2002 của Bộ Chính trị về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Trước mắt, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [2, tr.
Nội dung này lại tiếp tục được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 107) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Điều 2). Hoạt động “Thực hành quyền công tố” của Viện kiểm sát là một hoạt động mang tính quyền lực nhân danh nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ra trước Tòa án và hoạt động thực hành quyền công tố tại phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện rõ nhất, đầy đủ nhất bản chất của chức năng thực hành quyền công tố, được thể hiện bằng bản cáo trạng truy tố bị cáo trước Tòa án. trách nhiệm của Kiểm sát viên là phải bảo vệ và chứng minh sự buộc tội đó, thông qua đó Viện kiểm sát giáo dục những người tham dự phiên tòa. Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát, là một hoạt động Thông qua hoạt động thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Viện kiểm sát giáo dục những người tham dự phiên tòa.
Trong tố tụng hình sự Việt Nam, hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án, được coi là giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng, bởi: Theo quy định tại Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được 9 coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Trình tự luật định ở đây chính là việc xét xử của Tòa án và bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động mà trong đó có bao gồm kiểm sát hoạt động xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án”. Đây là một hoạt động mang tính đặc trưng thuộc chức năng của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án nhằm đảm bảo cho pháp luật hình sự được thực hiện nghiêm minh, công bằng và khách quan.
Quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội giao thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án, để phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án, xử lý những vi phạm đó. Nhà nước ta hiện đang thực hiện ba chức năng gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp được tổ chức không phân lập nhưng lại có sự phân công phối hợp để cùng thực hiện quyền lực Nhà nước. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta giao cho Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện đồng thời hai chức năng theo hiến định là hoàn toàn hợp lý, phù hợp tình hình thực tế. Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân cần phải nâng cao vai trò trách nhiệm, cụ thể là chức trách, vài trò, địa vị pháp lý của Kiểm sát viên, đảm bảo cho Kiểm sát viên đủ thực quyền chủ động, độc lập khi làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án.
10 Hiểu đúng chức năng Nhà nước của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước, là cơ sở lý luận hết sức quan trọng, để chúng ta hoàn thiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước cũng như trong tố tụng hình sự. Quan điểm của tác giả, Nhà nước tiếp tục giao chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật cho Viện kiểm sát nhân dân trong đó bao gồm kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm của Tòa án như quy định của Bộ luật tố tụng hiện hành. Vì Viện kiểm sát là cơ quan nắm rõ tình hình, diễn biến của vụ án từ khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm đến điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử đến khi chấp hành xong abrn án, nên việc kiểm sát sẽ được thực hiện có hiệu quả hơn. * Về nhiệm vụ: Nhiệm vụ có thể được hiểu là những công việc phải làm, phải gánh vác, hay nói cách khác là những việc phải làm vì một mục đích trong một thời gian nhất định.
Dó đó, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân chính là những hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của cả bộ máy nhà nước trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật cụ thể là Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức VIỆN KIỂM SÁTND năm 2014: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát nhân dân sẽ được đặt lên hàng đầu cũng là nhiệm vụ chủ yếu của Viện kiểm sát nhân dân và là cơ sở thực hiện các nhiệm vụ khác.