Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TẬP LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 1. Trên thế giới: Từ TCN (460-377 TCN), Hippocrate – người được thế giới suy tôn là ông Tổ của ngành Y - đã cống hiến cả đời cho người bệnh, với lời thề Hippocrate bất tử, ông thể hiện quan điểm, lý tưởng sống của người thầy thuốc “ với sự thật trong sáng và thiêng liêng, tôi sẽ sống cuộc đời của mình và thực hành nghề nghiệp của mình. Trong bất cứ ngôi nhà nào mà tôi đến, tôi sẽ bước vào đó vì lợi ích của người bệnh, và sẽ tránh xa khỏi mọi điều ác và hành động xấu xa.
Bất kể điều gì tôi nhìn thấy hoặc nghe thấy về cuộc sống của con người mà không nên nói ra, tôi sẽ không bao giờ tiết lộ, khi nhận thức được rằng những điều đó cần được giữ kín”.[17] Với sự quan tâm sâu sắc đến việc trau dồi kiến thức, kỹ năng và đạo đức của người thầy thuốc, Lois DeBakey (2005) đã nhấn mạnh “ Một trí óc phân tích, tìm tòi; một sự khát khao không ngừng với kiến thức mới; và một trái tim đầy trắc ẩn với người ốm – đó là những đặc điểm nổi bật của những người thầy thuốc tận tụy, những người đã dành sự say mê cho y học”.[31] Fred Abbatt và Rosemary McMahon (1958) đã có nhiều đóng góp quan trọng về hướng dẫn công tác giảng dạy thực hành trong đào tạo nhân viên y tế. Các tác giả đã giảng giải cách để người giảng viên biết cụ thể là sinh viên cần phải học gì. Từ kỹ thuật phân tích nhiệm vụ sẽ đưa tới sự phân biệt rõ ràng giữa các điều cần học khác nhau: kiến thức, thái độ, hay kỹ năng thao tác nghề,…[10] Nair và cộng sự (1997) nhấn mạnh tầm quan trọng của dạy và học LS “ Giảng dạy bên giường bệnh là địa điểm duy nhất mà tại đó việc tiến hành lấy bệnh 7 sử, thăm khám, chia sẻ và một thái độ tận tình chu đáo có thể được dạy và học qua việc làm mẫu”.[32] Tác giả Katie Tonarely (2010) cũng đã khẳng định để trở thành một điều dưỡng chuyên nghiệp thì trong quá trình học sinh viên điều dưỡng phải tham gia thực tập lâm sàng dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Tác giả nhấn mạnh mục đích của thực tập lâm sàng giúp sinh viên điều dưỡng có thể làm công việc chăm sóc bệnh nhân một cách độc lập và thích đáng đồng thời có được thái độ phù hợp trong việc chăm sóc người bệnh một cách chuyên nghiệp.
[3] Với quan điểm thực tập chính là trọng tâm của giáo dục y học, và lấy người bệnh làm trung tâm, tác giả J. Guibert (1992) đã nêu và giải quyết những vấn đề cơ bản như: xây dựng một kế hoạch thực tập, theo dõi kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch thực tập, quản lý việc lượng giá các kỹ năng thực hành của sinh viên, phương pháp đánh giá cuối đợt của sinh viên,…[30] Nhóm tác giả Rick Sullivan, Ron Magarick, Gary Berghthold, Ann Blouse và Noel Mc Intosh (1995) thể hiện quan điểm chú trọng đến THLS trong quá trình đào tạo sinh viên y khoa, nhấn mạnh sự ứng dụng kiến thức vào việc thực hiện các kỹ năng, vì đó cũng là năng lực nghề nghiệp của họ.[32] Tương tự, các tác giả Scanlan Judith, Care và Gessler Sandra (2001) đã nêu lên và phân tích tình trạng sinh viên chưa đạt yêu cầu trong thực tập lâm sàng, từ đó đề xuất những biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tay nghề cho nhân viên y tế.[31] Học viện khoa học y học quốc gia Hoa kỳ đã chỉ ra rằng năng lực thực hành của điều dưỡng ảnh hưởng mật thiết đến sự an toàn của người bệnh. Tại Thái Lan, Philippine đã có những chương trình đào tạo điều dưỡng theo từng chuyên ngành: Lão khoa, nhi khoa, chăm sóc gia đình, cộng đồng,…vì vậy việc chú trọng đến việc học thực hành lâm sàng là rất cần thiết trong chương trình đào tạo điều dưỡng. Chỉ ở môi trường bệnh viện sinh viên mới có thể mắt thấy, tai nghe những hình ảnh có thật ngay trên người bệnh.
Đây là điểm mấu chốt khác học ở trường, vì mỗi người bệnh là một bài học khác nhau, không bao giờ có hai người bệnh 8 giống nhau cho dù có cùng một căn bệnh. Bên cạnh đó, sinh viên còn được học hỏi thêm những kinh nghiệm của giáo viên hoặc điều dưỡng tại bệnh viện [4]. Hiện nay, theo từng điều kiện phát triển của từng quốc gia mà việc học thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng được quan tâm và chuẩn hóa theo các mức độ khác nhau [7]: Tại Úc, cứ 3-5 sinh viên thực hành được 1 Điều dưỡng tại bệnh viện được chỉ định làm giáo viên hướng dẫn. Tại Mỹ, 2-3 sinh viên được 1 giáo viên làm việc tại khoa thực tập hướng dẫn.
Sinh viên phải học các kỹ thuật thực hành tại các phòng thực tập của bệnh viện trước khi học thực hành trên bệnh nhân. Tại Singapore, sinh viên được thực hành tại các bệnh viện của trường học. Tại Thái Lan, 5-8 sinh viên được một giáo viên có kinh nghiệm hướng dẫn thực hành trên người bệnh. Tại Việt Nam: Trong chương trình đào tạo của sinh viên ngành điều dưỡng, thời gian thực tập lâm sàng chiếm hơn một nửa số tiết và học phần.
Không chỉ ở Việt Nam, mà các nước trên thế giới chương trình đào tạo điều dưỡng đều rất chú trọng phần thực hành. Bởi, đây là một ngành nghề mang tính chất đặc thù: Chăm sóc, làm giảm nhẹ sự đau đớn của con người do bệnh tật và do các can thiệp y tế. Quá trình học lâm sàng tại bệnh viện giúp sinh viên làm quen với môi trường bệnh viện: phòng bệnh, giường bệnh, người nhà người bệnh, nhân viên y tế. Nội dung học thực hành lâm sàng tại bệnh viện được chi tiết hóa bằng các chỉ tiêu tay nghề.
Nhờ các kỹ năng lâm sàng, sinh viên mới có thể lồng ghép các kiến thức của mình để cho ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả trong điều trị, chăm sóc người bệnh. Do đó, việc học thực hành lâm sàng có những quy định hết sức nghiêm khắc mà sinh viên phải tuân thủ. - Báo cáo tham luận tại Hội nghị nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện người bệnh, tác giả Nguyễn Hoa (1997) đã khẳng định: đào tạo rèn luyện người 9 điều dưỡng phải đạt 3 kỹ năng cơ bản đó là kỹ năng tay nghề, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng ra quyết định tự giải quyết vấn đề.[28] - Trong khi đó, tác giả Dương Đình Thiện (2002) cho rằng việc đào tạo lâm sàng trong trường y hướng mạnh vào cơ chế của bệnh thông qua hóa sinh y học, giải phẫu, sinh lý và vô số các môn học khác. Những môn học truyền thống này có ảnh hưởng rất to lớn trong quá trình sinh viên thực hành lâm sàng.
- Đồng quan điểm với nhiều tác giả, tác giả Đỗ Đình Xuân (2007) đề ra những giải pháp định hướng phát triển ngành điều dưỡng, đặc biệt chú trọng đến giải pháp nâng cao kiến thức để đáp ứng được những thay đổi đang diễn ra trong thực tế, nâng cao chất lượng thực hành, nâng cao y đức và đạo đức nghề nghiệp trong đào tạo điều dưỡng.[18] - Tương tự, tác giả Nghiêm Xuân Đức (2008) cho rằng trong quá trình dạy và học lâm sàng, GV và SV phải làm việc với nhiều nội dung và ở môi trường đặc biệt. Nguy cơ xảy ra sự phân tán, tản mạn, thiếu tập trung là rất cao. Để khắc phục hiện tương này và để nâng cao hiệu quả phải tập trung nỗ lực hướng vào 3 mục tiêu chung, được mô tả tóm tắt là: học nghề, học phương pháp luận và tiềm năng tự phát triển, học làm người chăm sóc sức khỏe (kiến thức – kỹ năng – Thái độ).[6] - Tác giả Trần Thị Thuận (2008) nhấn mạnh một trong những chức năng điều dưỡng là thực hành chăm sóc người bệnh. Muốn thực hiện quy trình chăm sóc hiệu quả người điều dưỡng cần thông suốt các bước tiến hành và phải có những kiến thức khoa học cơ sở như: Sinh lý học, Tâm lý học, Dược lý học, Bệnh học,…lẫn kiến thức chuyên môn điều dưỡng đã được trang bị trong quá trình đào tạo và những kinh nghiệm tích lũy trong quá trình chăm sóc thực tế trên người bệnh.
[16] - Các tác giả Hà Thị Hương (2005), Nguyễn Thị Kim Thoa (2009), Nguyễn Doãn Cường (2011) cũng đã có sự quan tâm đến vấn đề TTLS qua việc thực hiện đề tài liên quan đến các hoạt động TTLS của SV. Tuy nhiên, các tác giả trên đứng ở góc độ quản lý giáo dục để đi vào khảo sát hiện trạng TTLS qua công tác: tổ 10 chức, triển khai, kiểm tra/đánh giá từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng thực tập của sinh viên ngành Y.[7],[15],[4] - Tương tự, tác giả Nguyễn Văn Khải (2013) từ khảo sát đánh giá thực trạng quản lý dạy học LS ở một số trường Y đã đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học LS. Qua đó, tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng thể vào thực trạng việc dạy và học lâm sàng của điều dưỡng tại Việt Nam.[8] Nhìn chung, các đề tài đề cập đến việc thực tập lâm sàng của sinh viên ngành Y nói chung, ngành Điều dưỡng nói riêng chưa nhiều. Một số đề tài đặt trọng tâm vào việc quản lý các hoạt động thực tập lâm sàng.
Ở góc độ đi vào khảo sát chất lượng TTLS để từ đó đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp thì chưa tìm thấy đề tài. Các khái niệm liên quan: 1. Khái niệm thực tập: Từ điển tiếng Việt (1998), Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa: Thực tập là làm trong thực tế để áp dụng và củng cố kiến thức lý thuyết, trau dồi thêm về nghiệp vụ chuyên môn. [12] Định nghĩa của Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên: Thực tập là tập làm trong thực tế để áp dụng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn: sinh viên đi thực tập ở nhà máy, sau đợt thực tập phải nộp báo cáo, tổng kết cho nhà trường.
[19] Theo định nghĩa của Oxford Advanced Learner’s Dictionary thì thực tập (practice) là thực hiện một hoạt động thường xuyên liên tục nhằm nâng cao kỹ năng. [3] Tự điển Larousse định nghĩa thực tập (stage) thì đây là giai đoạn học tập, nghiên cứu qua thực tế, được yêu cầu đối với học viên theo học một số nghề (thực tập sư phạm, thực tập luật sư), cũng là giai đoạn mà một người phải tạm thời đến làm việc tại doanh nghiệp để hoàn tất chương trình đào tạo.