Chương 1: Cơ sở lý luận nâng cao chất lƣợng nhân lực trong quản lý nhà nƣớc đối với ngành giao thông vận tải. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng nhân lực Sở giao thông vận tải H à Nam. Chương 4: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng nhân lực tại Sở giao thông vận tải Hà Nam.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu. Nguồn nhân lực của Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế đƣợc sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nƣớc nghiên cứu. Điển hình là các công trình nghiên cứu sau: 1. Viện Chiến lƣợc phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (1999), Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong chiến lƣợc phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 – 2020.
Nội dung nghiên cứu đã phân tích làm rõ thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam, đánh giá những ƣu điểm, hạn chế của NNL. Tình hình phát triển KT-XH của Việt Nam, giải pháp phát nguồn nhân lực trong chiến lƣợc phát triển KT-XH năm 2010-2020. Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (2004), Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb khoa học - xã hội, Hà Nội. Tác giả đã đi sâu phân tích cơ sở khoa khọc NNL, quản lý nguồn nhân lực, thực trạng, ƣu điểm, hạn chế quản lý NNL của Việt Nam; các giải pháp quản lý NNL ở Việt Nam.
Lê Văn Toan (2007), Việc làm trong xu thế toàn cầu hoá, Nxb lao động – Xã hội. Tác gỉả nghiên cứu làm rõ vấn đề hiện trạng việc làm ở Việt Nam; xu thế toàn cầu hóa, những cơ hội và thách thức, giải pháp giải quyết việc làm trong xu hƣớng toàn cầu hóa. GS,VS Phạm Minh Hạc (2001) Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả nghiên cứu làm rõ nội dung CNH, HĐH; vai trò, mối quan hệ của con ngƣời trong sự nghiệp CNH, HĐH; giải pháp phát triển con ngƣời toàn diện thời kỳ CNH, HĐH.
Hội thảo khoa học: Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, Tạp chí cộng sản tháng (9/2012). Hội thảo đã khẳng định vai trò quan trọng mang tính quyết định của NNL, đặc biệt là NNL chất lƣợng cao; đánh giá thực trạng NNL có nhiều tiến bộ nhƣng cũng còn nhiều hạn chế, bất cập; đƣa ra một số đề xuất, kiến nghị để phát triển NNL. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội; phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và HNQT; quản lý nhân lực, việc làm trong xu thế toàn cầu hóa; phát triển toàn diện con ngƣời trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các công trình đã tập trung nghiên cứu nội dung phát triển (số lƣợng, chất lƣợng), công tác quản lý nhân lực, vấn đề việc làm, phát triển toàn diện con ngƣời.
các tác giả đã đƣa ra cơ sở khoa học, thực tiễn, các giải pháp để phát triển, quản lý nguồn nhân lực và đều đi đến kết luận khẳng định nguồn nhân lực là động lực quan trong trọng nhất, có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chƣa tập trung đi sâu nghiên cứu việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực (thể lực, trí lực, ý thức xã hội), nhất là khả năng nghiên cứu, sáng tạo, tiếp thu tiến bộ khoa học – kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi mục tiêu đƣa đất nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại vào năm 2020. Việc nghiên cứu Đề tài “ Nâng cao chất lượng nhân lực tại sở GTVT tỉnh Hà Nam ” từ góc độ quản lý kinh tế của tác giả sẽ đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực đáp ứng xu thế phát triển của đất nƣớc cũng nhƣ khu vực, của sở GTVT tỉnh Hà Nam là hết sức cần thiết.2 Các khái niệm cơ bản. Nhân lực theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trƣờng Đại học kinh tế quốc dân là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời 5 và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con ngƣời có sức lao động.2 Nguồn nhân lực. Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát triển của NNL là một trong những thƣớc đo chủ yếu sự phát triển. Vì vậy, các nƣớc đều rất coi trọng phát triển NNL.
Trong Thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 này, đã có nhiều quốc gia (nhƣ Nhật Bản, Singapore) tuy nghèo về tài nguyên thiên nhiên, nhƣng do phát huy và sử dụng tốt NNL nên đã đạt đƣợc thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Vậy, nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Hiện nay, khái niệm NNL đƣợc hiểu khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu của từng tổ chức và từng ngƣời, cụ thể: - Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO, thì NNL là toàn bộ dân cƣ của một nƣớc trong độ tuổi và có khả năng lao động. Nhƣ vậy, NNL là nguồn lực con ngƣời cung cấp cho nền sản xuất, kinh doanh và dịch vụ xã hội; NNL là nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội [Báo cáo của Liên hợp quốc về tác động toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực]. - Theo quan niệm của Liên hợp quốc, đứng trên giác độ xem xét, cơ quan này coi NNL theo phƣơng diện chất lƣợng con ngƣời với vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội là yếu tố quan trọng, quyết định đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, đã cho rằng: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con ngƣời có liên quan đến sự phát triển của đất nƣớc.
-Còn theo Giáo sƣ Phạm Minh Hạc: NNL cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hay một địa phƣơng sẵn sàng tham gia một công việc nào đó [Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con ngƣời và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa – 2001]. Mặc dù có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau nhƣng tựu chung lại thì các nhà khoa học đều thống nhất ở một số điểm sau: NNL là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình 6 lao động. Sự tồn tại và phát triển của một tổ chức phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhƣ: vốn, cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật, ngƣời lao động trong tổ chức. Các yếu tố máy móc, công nghệ kỹ thuật, các thiết bị đều có tể mua đƣợc, thay thế và chế tạo đƣợc nhƣng yếu tố con ngƣời thì không thể.
Có thể khẳng định rằng NNL có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức. NNL đƣợc hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cức đặc điểm nào khác tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh trong tổ chức của những ngƣời lao động. Trên cơ sở những quan niệm về NNL ở trên, luận văn này tiếp cận khái niệm NNL nhƣ sau: NNL được hiểu là nguồn lực con người (bao gồm cả thể lực, trí lực và tâm lực) là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, NNL là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ sự phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia. Với khái niệm này, cần chú ý các điểm sau: - NNL là nguồn lực con ngƣời (bao gồm cả trí lực, thể lực và tâm lực); - Là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển KT – XH; - Là tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia.Nguồn nhân lực trong tổ chức.
Khi nói đến NNL trong một tổ chức, đƣợc hiểu đó là tổng số lao động làm việc trong tổ chức. Đây là lực lƣợng lao động (cả số lƣợng và chất lƣợng) mà tổ chức sử dụng để duy trì và phát triển hoạt động theo chƣơng trình, kế hoạch đề ra theo từng thời gian. NNL trong một tổ chức chính là những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động, là mọi cá nhân tham gia vào bất cứ hoạt động nào của một tổ chức. Tổ chức đó có thể là một ngành, một đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc một cơ quan.
Bằng sức lao động cùng với các hoạt động nhận thức, tình cảm, hoạt động. các 7 thành viên trong tổ chức đã sử dụng công cụ lao động kết hợp với các yếu tố khác tác dụng vào đối tƣợng lao động để tạo ra hàng hóa hoặc dịch vụ. Đó chính là sức mạnh vật chất của NNL. Mặt khác, tổ chức hoạt động nhƣ một cơ thể sống, phản ánh sức sống tinh thần thông qua văn hóa nghề nghiệp trong tổ chức, đƣợc tạo nên bởi truyền thống, tập quán, lễ nghi và nghệ thuật ứng xử trong tập thể lao động.
Với những quan niệm trên, theo tác giả luận văn: NNL trong tổ chức là toàn bộ lực lƣợng lao động (nói 1 cách khác là lực lƣợng lao động theo quy mô, cơ cấu) và chất lƣợng của những ngƣời lao động phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức đó. Do đó, NNL trong tổ chức đƣợc xem và đánh giá dƣới hai góc độ: về số lƣợng (tính bằng ngƣời) và chất lƣợng đƣợc đánh giá thông qua thể lực, trí lực và tâm lực. Chất lượng nguồn nhân lực. Trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thì yếu tố lao động có chất lƣợng cao đóng vai trò hết sức quan trọng.