Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực trong Doanh nghiệp Chương 2: Phân tích chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Cơ khí 17- Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng- Bộ Quốc phòng Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Cơ khí 17- Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng- Bộ Quốc phòng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT KINH DOANH 1.1 Một số khái niệm liên quan đến chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.Khái niệm nguồn nhân lực, nhân lực, nhân sự - Khái niệm nguồn nhân lực + Có nhiều khái niệm khác nhau về NNL tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi tổ chức, mục tiêu và cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có cách hiểu khác nhau khi bàn về khái niệm nguồn nhân lực. - Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ của mỗi cá nhân và của đất nước” - Theo Beng (Fischer & Dornhusch, 1995): Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. - Theo Phạm Minh Hạc (2001): Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó [7, tr.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Từ những khái niệm trên, có thể rút ra được khái niệm tổng quát về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay một xã hội, tức là tất cả các thành viên của tổ chức vận dụng sức lực, kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức của mình - Khái niệm nhân lực: Nhân lực là con người là tài nguyên quan trọng mà tổ chức có, nó bao gồm kiến thức kỹ năng , kinh nghiệm và sự sáng tạo của các cá nhân làm việc trong tổ chức đó. Nhân lực không chỉ để cập đến số lượng người lao động trong tổ chức mà còn bao gồm cả khả năng tiềm năng của họ để thực hiện công việc hiệu quả - Khái niệm Nhân sự: Nhân sự được sử dụng để chỉ các cá nhân làm việc trong một 8 Tổ chức hoặc doanh nghiệp cụ thể. Nhân sự thể hiện một cách tổng thể về tổng hợp những người làm việc trong tổ chức mà không phân biệt rõ ràng về các yếu tố như kỹ năng, chức vụ, hoặc vị trí làm việc.2 Khái niệm nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm nguồn lực của tất cả các thành viên mà doanh nghiệp đang quản lý sử dụng, mang tính ổn định và lâu dài.
Trong điều kiện hiện nay, nguồn nhân lực của nhân dân bao gồm cả những người ngoài doanh nghiệp nhưng có tham gia vào hoạt động hay giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp trong điều kiện hoàn cảnh nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu về nguồn nhân lực và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là yêu cầu hết sức quan trọng đối với tất cả mọi doanh nghiệp. Bởi lẽ sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả là một chiến lược lâu dài đối với các doanh nghiệp, điều đó không chỉ làm cho bộ máy doanh nghiệp hoạt động tốt mà còn là một biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc sử dụng nguồn nhân lực đúng, đủ, hợp lý sẽ đem lại hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.Khái niệm chất lượng.
Theo hướng tiếp cận cuả luận văn, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, là các cá nhân đã và đang cống hiến sức lực, kiến thức, khả năng của mình cho doanh nghiệp. Tất cả vì mục tiêu cuối cùng mà doanh nghiệp hướng tới, hoàn thành các công việc được giao và xây dựng, phát triển doanh nghiệp. Như vậy, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một doanh nghiệp đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình xây dựng, phát doanh nghiệp; “tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, tâm lực của người lao động.3 Khái niệm chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển của con người. Theo giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động Xã hội (2011) thì: “Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,…) phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công 9 việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” [3, Tr9].
CLNNL của doanh nghiệp hay tổ chức được thể hiện ở sự đoàn kết tập hợp của các nguồn lực trong tổ chức. Hiên nay cơ bản CLLĐ trong doanh nghiệp được đánh giá thông qua mối quan hệ giữa chi phí lao động với hiệu quả của lao động. Đối với doanh nghiệp nói chung chất lượng của nhân lực đến đâu hoạt động năng lực khả năng hoàn thành các mục tiêu và phát triển đến đó Theo cách tiếp cận của luận văn, CLNNL trong doanh nghiệp chính là mức độ đáp ứng các phương diện cơ bản trên các phương diện: thể lực, trí lực, tâm lực so với yêu cầu công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp.4 Khái niệm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Thuật ngữ “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”chỉ việc thực hiện cáchoạt động ndẫn đến sự thay đổi về CLNNL tăng lên so với CLNNL hiện có. Đó là những biểu hiện tăng lên các tiêu trí như trí lực, tâm lực của cá nhân mỗi con người.
NCCLNNL tạo ra nguồn nhân lực có khả năng hơn trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, tạo ra NNL tốt hơn trong quá trình làm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra giúp tổ chức đó có khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường. Nâng cao CLNNL doanh nghiệp: là tổng thể các nội dung, cách thức, phương thức làm biến đổi các yếu tố cấu thành CLNNL theo hướng phát triển một các hợp lý về quy mô và trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu về mục tiêu phát triển của doanh nghiệp với hiệu quả ngày càng cao. Nâng cao CLNNL là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội. Từ góc độ này, tác giả cho rằng nâng cao CLNNL lchính là nâng cao năng lực làm việc, kỹ năng xử lý công việc, và thái độ trong công việc của NNL đang làm việc tại Doanh nghiệp.
Từ những luận điểm trình bày trên, luận văn xác định: “CLNNL trong doanh nghiệp là việc thực hiện các biện pháp làm gia tăng mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của 10 nguồn nhân lực trên các phương diện: thể lực, trí lực, tâm lực so với yêu cầu công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp” 1.2 Các yếu tố cấu thành chất lƣợng nguồn nhân lực Thực tế đã chứng minh có rất nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng NNL là nguồn lực quan trọng nhất của mỗi tổ chức hoặc doanh nghiệp hay nói lơn hơn đến cả quốc gia. NNL vừa là mục tiêu để phát triển vừa là động lực cho hoạt động của tổ chức. NNL là điều kiện tiên quyết cho tổ chức tồn tại và phát triển. Vì vậy mỗi doanh nghiệp được đánh giá mạnh hay yếu, phát triển hay tụt hậu phụ thuộc phần lớn vào CLNNL của tổ chức đó.
Các tiêu chí cấu thành CLNNL trong doanh nghiệp gồm có trí lực, thể lực và tâm lực. Tùy vào yêu cầu của mỗi quốc gia, doanh nghiệp và tùy vào thời điểm mà sự ưu tiên của mỗi tiêu chí này sẽ khác nhau. Sau đây là các nội dung cụ thể của từng tiêu chí.1 Thể lực Thể lực của nguồn nhân lực được thể hiện qua trạng thái sức khỏe của người lao động. Theo tổ chức y tế thế giới: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật”.
Theo Philippus Paracelsus, nhà vật lý học người Đức ở thế kỷ XV, người được coi là cha đẻ của nền y học hiện đại đã nói rằng tinh thần là người chủ, trí tưởng tượng là công cụ và cơ thể là nguyên liệu mềm dẻo. Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người cả về vật chất và tinh thần hay nói cách khác đó là sức khỏe cơ thể (thể chất) và tinh thần. Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, thể hiện khả năng mang vác, vận động của chân tay. Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động.
Sức khỏe được phản ánh qua nhiều chỉ tiêu biểu hiện như: tiêu chuẩn đo lường chiều cao, cân nặng, các giác quan, nội khoa, ngoại khoa, thần kinh, tâm thần, tai, mũi, họng, v.2 Trí lực Tri thức là yếu tố cơ bản của trí lực, là sự tổng hợp khái quát kinh nghiệm cuộc sống, là nhận thức lý tính. Nắm bắt được nó sẽ có lợi trong việc chỉ đạo thực tiễn, có lợi trong việc nâng cao khả năng phân tích và lý giải vấn đề. Trí lực là sự kết tinh của tri thức nhưng không phải là tri thức xếp đống.