Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu về động lực làm việc Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực làm việc của NVVP tại PTcons Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao động lực làm việc của NVVP tại PTcons Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm động lực làm việc và tạo động lực làm việc Động lực làm việc là một trong những chủ đề được nghiên cứu thường xuyên trong hoạt động quản trị nguồn lực con người ở các doanh nghiệp. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực làm việc. Theo Mitchell (1982), động lực làm việc thể hiện mức độ mà tại đó một cá nhân mong muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao. Theo Robbin (1998), động lực làm việc là sự nổ lực của nhân viên ở mức độ cao để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện các nhu cầu cá nhân của người nhân viên được thỏa mãn.
Theo Gail Carr (2005), động lực làm việc là sự thúc đẩy từ bên trong nhằm dẫn dắt nhân viên làm việc để hoàn thành các mục tiêu mà tổ chức đã đề ra dựa trên nền tảng những nhu cầu cơ bản của người lao động. Trong đó, “Động lực được định nghĩa là các quá trình thể hiện cường độ, định hướng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu” (Robbins and Judge, 1984, trang 244). Từ những khái niệm về động lực làm việc đã được trình bày, ta có thể hiểu rằng: Tạo động lực làm việc là hoạt động tìm kiếm, nâng cao và tạo ra các kích thích nhằm khuyến khích, thúc đẩy con người thực hiện hành vi để đạt được mục tiêu. Và tạo động lực làm việc cho nhân viên trong một tổ chức là việc sử dụng các chính sách, quy định, phương pháp quản lý… nhằm tác động đến nhân viên, đồng thời thúc đẩy và nâng cao tinh thần làm việc của họ.2 Vai trò của việc tạo động lực làm việc cho nhân viên Động lực làm việc giúp gia tăng năng suất làm việc của nhân viên trong trường hợp những yếu tố đầu vào khác không đổi.
Động lực làm việc giúp nhân viên cảm thấy hân hoan khi thực hiện công việc và không ngừng sáng tạo để hoàn thành các mục tiêu do tổ chức đặt ra. Khi một nhân viên có động lực làm việc, họ có thể đạt đến hiệu suất 80-90% trong khi thực hiện các nhiệm vụ được doanh nghiệp phân công, tỷ lệ nghỉ phép giảm thấp (Farhann Arman, 2009). Đồng thời, tạo động lực làm việc còn giúp nhân viên trung thành hơn với tổ chức, qua đó giảm tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên (MW Owar, 2010). Vì lẽ đó, để nhân viên cảm thấy hứng thú, 7 nhiệt tình và sáng tạo trong công việc thì cần thiết phải xây dựng những biện pháp tạo động lực thiết thực và hiệu quả trong một tổ chức.
Đối với nhân viên: Tạo động lực làm việc giúp người lao động vui vẻ và thoải mái tinh thần hơn trong quá trình làm việc. Khi ấy, nhân viên sẽ làm việc nhiệt tình hơn, hăng say hơn và đem lại kết quả tốt hơn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, nhân viên sẽ nổ lực và sáng tạo hơn khi làm việc nếu tinh thần họ được thoải mái. Khi ấy, năng suất lao động của người lao động được nâng cao và họ gắn bó lâu dài hơn với tổ chức.
Đối với tổ chức: Tạo động lực làm việc cho nhân viên đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Hoạt động tạo động lực làm việc giúp nhân viên nổ lực, hăng say và có những ý kiến đóng góp hay trong công việc. Những ý kiến đổi mới được hình thành sẽ giúp tổ chức thay đổi đột phá trong kinh doanh hay quy trình làm việc giúp doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí và tăng năng suất lao động.3 Các học thuyết liên quan đến động lực làm việc 1.1 Thuyết thứ bậc nhu cầu của Maslow (1943) Năm 1943, Maslow đã đưa ra học thuyết về nhu cầu của con người theo thức bậc từ thấp đến cao. Theo đó, nhu cầu của con người sẽ tồn tại và được phân loại thành 5 cấp bậc khác nhau: Nhu cầu tâm sinh lý: là nhu cầu cơ bản để con người tồn tại (ăn uống, ngủ nghỉ và các nhu cầu cơ thể khác).
Nhu cầu an toàn: là nhu cầu làm việc trong những khu vực được đảm bảo an ninh, không bị các tác động xâm hại về mặt thể xác lẫn tinh thần. Nhu cầu xã hội: là nhu cầu được gặp gỡ tiếp xúc, được yêu mến, được chấp nhận và thiết lập được nhiều mối quan hệ xã hội. Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu được mọi người xung quanh công nhận và đánh giá cao. 8 Nhu cầu tự thể hiện: là nhu cầu ở thứ bậc cao nhất, thôi thúc con người thực hiện công việc theo ước mơ, hoài bão của bản thân nhằm khẳng định vị trí và vai trò của mình.
Năm cấp nhu cầu của con người được Maslow phân thành hai nhóm: Nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao. Nhu cầu bậc thấp (Nhu cầu tâm sinh lý và nhu cầu an toàn) được thỏa mãn từ bên ngoài thông qua mức chi lương thưởng, đãi ngộ, chức danh… trong khi nhu cầu bậc cao (Nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được thể hiện) được thỏa mãn từ bên trong.thông qua sự tin tưởng, quyền hạn. Vì vậy, muốn tạo động lực làm việc cho nhân viên, nhà quản trị cần biết được nhân viên đó đang thuộc cấp bậc nào trong tháp nhu cầu của Maslow để tìm cách giúp họ thỏa mãn nhu cầu kịp thời và chính xác nhằm đạt được sự cống hiến tuyệt vời và gắn kết lâu dài từ nhân viên đối với tổ chức.2 Thuyết nhu cầu ERG của Alderfer (1969) Dựa trên nền tảng thuyết thứ bậc nhu cầu của Maslow, Giáo sư Clayton Alderfer từ đại học Yale đã đưa ra phát biểu: Con người có ba nhu cầu cơ bản (Nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển). Cùng một lúc, con người sẽ đồng thời theo đuổi việc thỏa mãn cả ba nhu cầu trên.
Thỏa mãn nhu cầu chính là điểm bắt nguồn cho mọi hành động của con người. Theo thuyết này, nhu cầu của con người được chia thành 3 mức: Nhu cầu tồn tại: Là những đòi hỏi vật chất tối cần thiết cho sự tồn tại của con người. Nhu cầu quan hệ: Là những đòi hỏi về các mối quan hệ tương tác qua lại giữa các cá nhân. Nhu cầu phát triển: Là những đòi hỏi bên trong mỗi con người cho sự phát triển cá nhân.
Khác với quan điểm của Maslow về việc con người chỉ theo đuổi việc thỏa mãn một nhu cầu và nhu cầu ở mức cao chỉ được thỏa mãn khi con người đã được thỏa mãn nhu cầu ở mức thấp. Thuyết EGR của Alderfer cho rằng: Có nhiều nhu cầu khác nhau ảnh hưởng đến động lực làm việc tại cùng một thời điểm, và khi một 9 nhu cầu nào đó không được thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực sang thỏa mãn các nhu cầu khác. Ngoài ra, thuyết EGR còn giải thích được lý do nhiều nhân viên thường tìm kiếm điều kiện làm việc tốt hơn ngay cả khi điều kiện hiện tại đã rất tốt, đó là do nhu cầu giao tiếp và phát triển chưa thỏa mãn được họ.3 Thuyết hai yếu tố của Herzberg (1959) Nhà tâm lý học Frederick Herzberg đã đưa ra lý thuyết hai nhân tố - còn được gọi là lý thuyết thúc đẩy động lực. Theo đó, Herberg đã chia các nhân tố tạo động lực làm việc cho nhân viên thành hai loại: nhân tố duy trì – thuộc về sự thỏa mãn bên ngoài và nhân tố động viên – thuộc về sự thỏa mãn bản chất bên trong, cụ thể: Bảng 1.1: Các nhân tố duy trì và động viên Các nhân tố duy trì Các nhân tố động viên 1.
Phương pháp giám sát 1. Sự thử thách trong công việc 2. Hệ thống phân phối thu nhập 2. Các cơ hội thăng tiến 3.
Quan hệ với đồng nghiệp 3. Ý nghĩa của các thành tựu 4. Điều kiện làm việc 4. Sự nhận dạng khi công việc được thực hiện 5.
Chính sách của công ty 5. ý nghĩa của các trách nhiệm 6. Cuộc sống cá nhân 7. Quan hệ qua lại giữa các cá nhân Nguồn: Trích từ Nguyễn Hữu Lam (2011) Bên cạnh đó, ảnh hưởng của các nhân tố duy trì và động viên đến hoạt động thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên còn được thể hiện chi tiết trong bảng 1.2: Ảnh hƣởng của các nhân tố duy trì và động viên Các nhân tố duy trì Các nhân tố động viên Ảnh hƣởng của các nhân tố Khi đúng Khi sai Khi đúng Khi sai Không có Bất mãn Thỏa mãn Không thỏa mãn sự bất mãn Ảnh hưởng Động viên Không có Không động viên tiêu cực được tăng cường sự bất mãn Nguồn: Trích từ Nguyễn Hữu Lam (2011) 10 1.4 Thuyết mong đợi của Victor H.
Vroom (1964) Thuyết mong đợi của Victor H. Vroom (1964) cho rằng động viên là kết quả của những mong đợi của một cá nhân. Sự động viên của con người phụ thuộc vào hai nhân tố: Mức độ mong muốn thực sự của cá nhân đối với việc giải quyết công việc. Cá nhân đó nghĩ về công việc thế nào và sẽ đạt đến nó như thế nào.
Vì thế, để tạo động lực làm việc cho người lao động, doanh nghiệp cần quan tâm đến nhận thức và mong đợi của cá nhân về các mặt: Tình thế. Các phần thưởng. Sự dễ dàng thực hiện theo cách mà sẽ đạt đến phần thưởng. Sự bảo đảm là phần thưởng được trả.
Sức mạnh động viên: Tôi nên nổ lực bao nhiêu? Khả năng Giá trị được Khả năng của nổ lực nhận thức của nhận được thực hiện phần thưởng phần thưởng Cơ hội hoàn Phần thưởng Khả năng đạt thành nhiệm nào là có giá đến phần vụ của tôi thế trị với tôi? thưởng thế nào nếu tôi nào nếu tôi đưa ra các nỗ hoàn thành lực cần thiết? nhiệm vụ? Hình 1.1: Sơ đồ về thuyết mong đợi của Victor H. Vroom Nguồn: Trích từ Nguyễn Hữu Lam (2011) Sơ đồ hình 1.1 cho thấy mức độ động viên của người lao động phụ thuộc lớn vào nhận thức của người lao động: 11 Nhận thức về khả năng thực hiện nhiệm vụ; Nhận thức về giá trị của phần thưởng; Nhận thức về khả năng nhận được phần thưởng.