CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CÔNG VIỆC VÀ SỰ THỎA MÃN TRONG CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1. Lý thuyết về sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên 1. Khái niệm Khái niệm về sự thỏa mãn trong công việc đã có từ rất lâu đời với nhiều khái niệm khác nhau. Cụ thể như sau: Đầu tiên có thể kể đến khái niệm của Hoppock (1935), ông cho rằng: tổng hợp sự thỏa mãn về tâm lý, sinh lý và các yếu tố môi trường khiến cho một người thật sự cảm thấy thỏa mãn về công việc của họ được gọi là sự thỏa mãn trong công việc.
Tiếp theo, trong nghiên cứu của mình Weiss (1967) định nghĩa: Thỏa mãn trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Bên cạnh đó, Smith (1983) đưa ra quan điểm rằng: Sự thỏa mãn với công việc được định nghĩa chỉ đơn giản là cảm giác mà người lao động cảm nhận về công việc của họ. Những năm sau đó, trong nghiên cứu của mình Ellickson & Logsdon (2001) lại có định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc như sau: thỏa mãn là khi người lao động cảm thấy thích thú với những gì họ đang làm. Kreitner & Kinicki (2007) thì cho rằng: sự thỏa mãn của người lao động đối với công việc phản ánh các sắc thái một cá nhân có yêu thích công việc của mình hay không.
Người nhân viên đó có cảm xúc hay tình cảm đối với công việc của mình. Gần đây, theo Sarwar và Khalid (2011) thì lại có định nghĩa là trạng thái cảm xúc thỏa mãn của nhân viên có liên quan với các nhiệm vụ trong công việc, người lãnh đạo, nơi làm việc, tình trạng công việc nói chung. Nhìn chung, có rất nhiều khái niệm khác nhau về sự thỏa mãn trong công việc. Trong đề tài này tác giả chọn khái niệm của Hoppock (1935) khi đề cập đến sự thỏa mãn công việc của nhân viên đó là: tổng hợp sự thỏa mãn về tâm lý, sinh lý và các yếu tố môi trường khiến cho một người thật sự cảm thấy thỏa mãn về công việc của họ được gọi là sự thỏa mãn trong công việc.
Tổng hợp các lý thuyết về sự thỏa mãn trong công việc 1. Thuyết nhu cầu Khi nhắc đến sự thỏa mãn thì không thể không nhắc đến thuyết nhu cầu của Maslow (1943). Theo lý thuyết này, con người đều có năm loại nhu cầu như sau: - Nhu cầu cấp độ 1: nhu cầu về sinh lý cơ bản nhất. Nhu cầu này bao gồm nhu cầu về ăn uống, nơi ở, sinh lý, nghỉ ngơi… - Nhu cầu cấp độ 2: Nhu cầu về an toàn.
Cần có cảm giác được an ninh, an toàn, gia đình, sức khỏe, việc làm… - Nhu cầu cấp độ 3: Nhu cầu xã hội. Muốn được gia nhập nhóm cộng đồng, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy. - Nhu cầu cấp độ 4: Nhu cầu được tôn trọng. Là các nhu cầu được tôn trọng, quý mến, được công nhận, địa vị, được tin tưởng.
- Nhu cầu cấp độ 5: Nhu cầu tự khẳng định bản thân ở cường độ cao. Là việc muốn sáng tạo, muốn được phát huy, muốn có những màn trình diễn được công nhận là thành đạt. Tác giả trình bày lý thuyết này có liên quan đến sự thỏa mãn trong công việc và chất lượng cuộc sống công việc vì các yếu tố trong lý thuyết này cơ bản thể hiện phần nào các khái niệm về QWL như: nhu cầu ở cấp độ 1 và 2 có tính chất giống như yếu tố về thu nhập và môi trường làm việc. Tương tự, cấp độ 3,4,5 có tính chất như các yếu tố về mối quan hệ với lãnh đạo, mối quan hệ đồng nghiệp, yếu tố sự công nhận.
Thuyết thành tựu Theo McClelland (1988), nhu cầu của con người có thể chia làm 3 loại như sau - Nhu cầu thành tựu: Người có nhu cầu thành tựu cao là người luôn theo đuổi việc giải quyết công việc tốt hơn. Họ muốn vượt qua các khó khăn, trở ngại. Họ muốn cảm thấy rằng thành công hay thất bại của họ là do kết quả của những hành động của họ. Điều này có nghĩa là họ thích các công việc mang tính khó khăn và thách thức.
Những người có nhu cầu thành tựu cao được động viên làm việc tốt hơn. - Nhu cầu về quyền lực: Là nhu cầu ảnh hưởng đến người khác, ảnh hưởng đến môi trường làm việc của họ có thể kiểm soát và điều khiển người khác. - Nhu cầu về liên minh: 123doc 7 Là nhu cầu được có các mối quan hệ bạn bè, tình yêu, các mối quan hệ xã hội, đội nhóm. Mối liên quan: Nhu cầu về thành tựu được xem như yếu tố về cơ hội đào tạo thăng tiến, cơ hội phát triển bản thân.
Hay nhu cầu về liên minh có thể hiểu là các yếu tố về đồng nghiệp, các mối liên hệ xã hội có liên quan công việc. Cơ sở lý thuyết về chất lượng cuộc sống công việc 1. Khái niệm về chất lượng cuộc sống công việc Chất lượng cuộc sống công việc (Quality of work life - QWL) đã được định nghĩa bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau. Trong đó có thể kể đến những khái niệm sau đây: Đầu tiên có thể kể đến Carlson (1980) định nghĩa QWL là sự cam kết của tổ chức để cải thiện công việc: tạo ra sự lôi cuốn, sự thỏa mãn, công việc hiệu quả và môi trường làm việc cho mọi người ở các cấp độ của tổ chức.
Tiếp theo, Cascio (1998) định nghĩa QWL liên quan đến cơ hội để đưa ra quyết định về công việc, thiết kế nơi làm việc của nhân viên, và những gì họ cần để giúp họ được hiệu quả nhất trong việc thực hiện công việc của mình. Bên cạnh đó, Efraty và Sirgy (2001) định nghĩa QWL là sự thỏa mãn của nhân viên với những nhu cầu thông qua các nguồn lực, hoạt động, và kết quả xuất phát từ sự tham gia tại nơi làm việc. Khái niệm QWL của Efaty và Sirgy dựa trên thuật ngữ “sự thoả mãn nhu cầu” trên cơ sở phát triển lý thuyết nhu cầu của Maslow. Những nhu cầu của nhân viên bao gồm: nhu cầu sức khoẻ và an toàn, nhu cầu kinh tế và gia đình, nhu cầu tự thể hiện, nhu cầu hiện thực, nhu cầu xã hội, học hỏi và thẩm mỹ.
Với cách tiếp cận này Efraty và Sirgy (2001) đã đồng nhất khái niệm QWL với khái niệm sự thoả mãn nhu cầu. Những năm gần đây, Theo European Foundation for the Improvement of Living and Working Conditions (2006) thì QWL được định nghĩa là “công việc tốt hơn và cách thức cân bằng của sự kết hợp cuộc sống làm việc với cuộc sống cá nhân”. Theo Laar (2007), trong nghiên cứu của mình, ông cho rằng: “chất lượng cuộc sống công việc là một phần của chất lượng cuộc sống tổng thể chịu tác động của công việc. Nhân viên sẽ đánh giá công việc của họ tốt như thế nào”.
Định nghĩa này nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa yếu tố công việc và yếu tố bên ngoài công việc, chất lượng cuộc sống công việc được xem xét và đánh giá dựa trên sự cảm nhận cá nhân của nhân viên. Nhân viên sẽ đánh giá sự tác động của môi trường làm việc đến bản thân về phương diện công việc và cuộc sống cá nhân. Qua sự đánh giá này nhân viên tìm được cách thức cân bằng của sự kết hợp cuộc sống làm việc với cuộc sống cá 123doc 8 nhân. Trên cơ sở tổng kết các lý thuyết trước đây, tác giả sử dụng định nghĩa của Laar (2007) trong luận văn này khi đề cập đến QWL.
Các yếu tố thành phần của chất lượng cuộc sống công việc Từ rất lâu đời, thuật ngữ QWL đã được các nhà khoa học đề cập tới và các tác giả khác nhau lại xem xét những khía cạnh khác nhau ở những quốc gia và những tổ chức khác nhau. Có thể kể ra một số mô hình về các yếu tố thành phần của QWL như sau: Theo Walton (1974) Walton (1974) xác định các yếu tố thành phần của QWL gồm tám yếu tố: - Lương thưởng công bằng và tương xứng: mức lương người lao động nhận được cho công việc tương xứng với năng lực, đủ cho chi phí sinh hoạt theo tiêu chuẩn chung, công bằng so với các vị trí khác trong doanh nghiệp. - Điều kiện làm việc an toàn: các điều kiện vật chất của môi trường làm việc được đảm bảo tiện dụng, sạch sẽ và an toàn, đảm bảo các điều kiện sức khoẻ và an toàn lao động. - Sử dụng năng lực cá nhân: nhân viên có cơ hội để nâng cao kiến thức và kỹ năng liên quan đến hoạt động làm việc thông qua đào tạo và bổ sung kiến thức, có điều kiện tốt để sử dụng và phát triển kiến thức và kỹ năng để phát huy năng lực giá trị bản thân, tìm kiếm những công việc đầy thử thách.
- Cơ hội phát triển nghề nghiệp và công việc đảm bảo: cho phép nhân viên phát triển sự nghiệp bằng các cơ hội thăng tiến cho các vị trí chức vụ cao hơn, và họ được đảm bảo làm việc trong tổ chức cho đến tuổi nghỉ hưu. - Hoà nhập xã hội trong tổ chức: nhận thức của người lao động về cơ hội giao tiếp với người khác thông qua hợp tác, bình đẳng công việc và kết quả để đạt được thành quả trong tổ chức, không có phân chia giai cấp tại nơi làm việc. - Quy tắc trong tổ chức: tổ chức tôn trọng các quyền tự do cá nhân của người lao động và sự khác biệt ý kiến quan điểm, bình đẳng trong mọi vấn đề của công việc để được giải quyết một cách thích hợp. - Cân bằng công việc và cuộc sống cá nhân: sự cân bằng giữa công việc của người lao động và vai trò của họ trong cuộc sống liên quan đến phân bổ thời gian cho nghề nghiệp, gia đình và các hoạt động xã hội.
123doc 9 - Mối liên quan xã hội của công việc: nhân viên nhận thức được trách nhiệm của mình và tổ chức mình đối với xã hội trong chính sách sử dụng lao động, chất lượng sản phẩm dịch vụ, vấn đề tài nguyên môi trường, tham gia vào sự phát triển của xã hội, của cộng đồng. Theo Taylor (1978) Taylor (1978) xác định các yếu tố thành phần QWL gồm 11 yếu tố là: tiền lương, giờ làm việc và điều kiện làm việc, bản chất của công việc, năng lực cá nhân, nhân viên tham gia quản lý, tính công bằng và sở hữu, hỗ trợ xã hội, sử dụng các kỹ năng hiện tại, sự tự phát triển, một tương lai có ý nghĩa trong công việc.