Mở đầu Trình bày tong quan về việc hình thành dé tài nghiên cứu của khóa luận, mục tiêu nghiên cứu. đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của dé tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp thực hiện Trình bày tong quan các lý thuyết về sự thỏa mãn công việc của nhân viên và mô hình IPA. Chương này cũng trình bày phương pháp thực hiện đề tài.
Chương 3: Tổng quan Công ty Trình bày về tổng quan công ty, cũng như thực trạng nhân sự tại công ty: Chương 4: Thực trạng và giải pháp nâng cao sự thỏa man cua nhân viên tại Công ty Phân tích kết quả, so sánh mức độ thỏa mãn và mức độ quan tâm trong công việc của nhân viên để xác định các yếu tố cần cải tiến và từ đó với thực trạng thực tế tại Công ty để đề xuất các giải pháp. Chương 5: Kết luận Tóm tat các kêt quả chính cua dé tai và đề xuât hướng nghiên cứu tiệp theo. CHƯƠNG2 - CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ PHƯƠNG PHAP THỰC HIỆN 2. Khái niệm về sự thỏa mãn công việc Hiện nay đã có rất nhiều định nghĩa về sự thỏa mãn trong công viéc: - Vroom (1964) tập trung vào vai trò của nhân viên ở nơi làm việc, coi sự thỏa mãn công việc như sự định hướng có ý thức của nhân viên đối với vai trò công việc mà họ đang làm.
- Theo Davis và cộng sự (1985) thì thỏa mãn trong công việc đại diện cho sự kết hợp những cảm giác tích cực và tiêu cực của nhân viên đối với công việc và nó liên quan chặt chẽ đến hành vi cá nhân tại nơi làm việc. - Luddy (2005) lại cho răng sự thỏa mãn công việc là phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc. Luddy cho răng các yếu tố tác động đến sự thỏa mãn công việc bao gồm: vị trí công việc, sự giám sát của lãnh đạo, nội dung công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp, sự đãi ngộ và các phần thưởng như điều kiện cơ sở vật chất, sự thăng tiễn, cầu trúc vận hành của tổ chức. - Theo Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thai độ dựa trên sự nhận thức của nhân viên (có thé là tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ.
Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu câu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao. - Pheo Kreitner và Kinicki (2007), sự thỏa mãn công việc chủ yếu phản ánh mức độ nhân viên yêu thích công việc của minh, đó chính là tinh cảm hay cam xúc của nhân viên đó đối với công việc. Tóm lại, sự thỏa mãn công việc cua một nhân viên được xem là cao hay thấp được thé hiện qua sự yêu thích, thích thú khi làm việc của nhân viên đó. Sự thỏa mãn công việc được tác động từ nhiều nguyên do khác nhau, tùy từng nhân viên có những mong muốn về sự thỏa mãn trong công việc khác nhau mà từ đó có những cách tiếp cận, hướng giải quyết khác nhau.
Các lý thuyết về sự thỏa mãn công việc 2. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Theo Maslow, nhu cầu con người được xếp loại từ thấp đến cao: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự khăng định mình. Theo ông, thông thường nhu câu của mỗi người sẽ đi theo thứ tự từ thấp đến cao, khi một nhu cầu ở dưới đã được thỏa mãn thì sẽ phát sinh nhu cầu tiếp theo ở cấp độ tăng dan. Và cứ như vậy, các nhu cầu mới theo cấp độ tăng dan liên tục được phát sinh và thúc đây con người phải luôn vận động, tìm kiếm các cơ hội mới để thỏa mãn các nhu cầu của mình.
Thuyết ERG cua Clayton Alderfer (1969) Clayton Alderfer, giao su Dai hoc Yale da tiến hành sửa đổi, bố sung cho lý thuyết Tháp nhu cầu của Abraham Maslow. Thuyết ERG cho rang thường xuyên có nhiều hơn một nhu câu có thể ảnh hưởng và tác động trong cùng một người, vào cùng một thời điểm. Nếu những nhu cầu ở mức cao không được đáp ứng đủ, khao khát thỏa mãn những nhu cầu ở mức dưới (của mồ hình) sẽ tăng. Ba điểm chính nhu cầu của con người theo thuyết ERG là: - Nhu cầu tổn tai (Existence needs): Ước muốn khỏe mạnh vẻ thé xác va tinh than, được đáp ứng day đủ các nhu cau căn bản dé sinh tồn như các nhu câu sinh lý, ăn, uống, mặc, ở, học hành.
và nhu cầu an toàn. - Nhu cầu giao tiếp (Relatedness needs): Ước muốn thỏa mãn trong quan hệ với mọi người. Mỗi người đều có những ham muốn thiết lập và duy trì các mối quan hệ cá nhân khác nhau. Ước tính mỗi người thường bỏ ra khoảng phân nữa quỹ thời gian để giao tiép với các mỗi quan hệ mà họ quan tâm.
- Nhu cau phát triển (Growth needs): Ước muốn được nâng cao bản thân va phát triển hơn trong cả cuộc sống và công việc. Các công việc, chuyên môn và cao hơn nữa là sự nghiệp riêng sẽ đảm bảo đáp ứng đáng kế sự thỏa mãn của nhu cau phát triển. Thuyết công bằng của Adam (1963) Theo Adam (1963), người lao động rất quan tâm đến vấn đề đối xử công băng và đúng đắn trong tổ chức. Người lao động luôn có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và những quyên lợi họ đạt được với sự đóng góp và quyên lợi của người khác.
Theo đó, nếu họ thay minh được it hơn so với công sức của mình hoặc ít hon so với những quyên lợi của những người khác, họ sẽ điều chỉnh bản thân, không cố găng đóng góp nhiều cho tổ chức nữa hoặc tệ hơn, tìm kiếm một cơ hội việc làm tại tổ chức khác. Ngược lại nếu họ thay ho nhan thay mình được nhiều quyền lợi hơn những người khác hoặc nhận được nhiều hơn so với quyền lợi đáng ra họ được nhận, họ sẽ điều chỉnh bản thân, nỗ lực để nâng cao những đóng góp của mình, tăng năng suất làm việc để cân bang với quyên lợi mà tổ chức trao cho họ. Thuyết hai nhân tổ của Herzberg (1959) Thuyết hai nhân t6 được đưa ra bởi Herzberg (1959), một nhà tâm lý học người Mỹ. Theo ông, các nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn công việc được chia làm hai loại: các nhân tô động viên và các nhân tổ duy trì.
Trong đó: - Nhân t6 động viên (Motivator factor): la tác nhân của sự thỏa mãn, su hài long trong công việc như: thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm trong công việc, sự thăng tiến và sự tiễn bộ. Nếu nhân viên được đáp ứng các nhu cầu này, sẽ mang lại sự thỏa mãn trong công việc cho họ, theo đó họ sẽ làm việc hăng hái hơn nhưng nếu không có họ vẫn làm việc bình thường. - Nhân tố duy tri (Demotivate factor): là tác nhân của sự không thỏa mãn trong công việc tại một tô chức, như: chính sách, chế độ của tổ chức đó, sự giám sát quản lý của lãnh đạo chưa phù hợp, các điều kiện cơ sở vật chất của nơi làm việc không đáp ứng được mong đợi của nhân viên, quan hệ với đông nghiệp hoặc cap trên không như mong đợi. Nếu nhân viên có trải nghiệm chưa thỏa mãn về những yếu tô này, sẽ dẫn đến sự không thỏa man trong công việc cua họ và làm việc kém hang hái.
Mặc dù thuyết hai nhân tố này của Herzberg được khá nhiều nghiên cứu đồng tình, nhưng song song vẫn gây khá nhiều tranh cãi. Do ông tiến hành nghiên cứu với hơn 200 nhân viên kế toán và kỹ sư tại Mỹ, việc lựa chọn hai đói tượng trên để phỏng van được cho là chưa phải những đại diện tốt nhất dé cho ra kết quả nghiên cứu chính xác. Tuy nhiên, thực tế cho thay các nhân tố thuộc hai nhóm trên đều có ảnh hưởng ít nhiều đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên. Các nghiên cứu về sự thỏa mãn công việc 2.
Nghiên cứu cúa Smith và các cộng sự (1969) Smith và cộng sự đã giới thiệu thang đo chỉ số mô tả công việc JDI (Job Descriptive Index) năm 1969, thang đo được thiết lập để đo lường sự hài lòng của nhân viên khi làm việc tại doanh nghiệp, sử dụng 72 mục đo lường mức độ hài lòng của nhân viên và đã được đánh giá cao trong cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Thang đo này gồm năm khía cạnh sau: e Bản chất công việc e Cơ hội đào tạo thăng tiến e Tiền lương e Lãnh dao e Đồng nghiệp Giá trị và độ tin cậy của JDI được đánh giá rất cao trong cả thực tiễn lẫn lý thuyết (Mayer và cộng sự, 1995) thang đo JDI đã tiếp tục được nghiên cứu và cập nhật vào các năm 1997 và 2009 bởi nhiều học giả khác nhau. Trong đó JDI cũng được dùng trong nghiên cứu đo lường sự thỏa mãn công việc của nhân viên trong bối cảnh làm việc tại Việt Nam của Trần Kim Dung năm 2005. Nghiên cứu cúa Weiss và các cộng sự (1967) Weiss và cộng sự tại trường Dai hoc Minnesota thi đưa ra các tiêu chí đo lường sự thỏa mãn cong việc thông qua bang câu hỏi Minnesota Satisfaction Questionare (MSQ).
Đây là bang hỏi khá phổ biến vì so với JDI và JSS thì nó rất cụ thé, dé áp dụng cho bat kỳ tổ chức hay đối tượng nào (Spector, 1977). MSQ có ba phiên bản bảng hỏi: gôm hai phiên bản dài năm 1967, 1977 và một phiên bản ngăn. Phiên bản dài năm 1967 sử dụng câu hỏi lựa chọn với năm cấp độ đo sự thỏa mãn là: không thỏa mãn, một chút không thỏa mãn, thỏa mãn, rất thỏa mãn và hoàn toàn thỏa mãn. Phiên bản dài năm 1977 sử dụng câu hỏi lựa chọn với năm cấp độ đo sự thỏa mãn là: rất thỏa mãn, thỏa mãn, trung tính, không thỏa mãn và rất không thỏa man.
Phiên ban ngan gồm hai mươi biến đo lường từ hai mươi thang đo của phiên bản dài, với năm cấp độ của sự thỏa mãn như phiên bản dài năm 1977. Phiên bản phân tích các yếu tố của hai mươi biến này để đưa ra hai yếu tố là sự thỏa mãn bên trong va sự thỏa mãn bên ngoài, cộng với yếu tô sư thỏa mãn tổng thể.