Chương 1: Cơ sở lý luận chung về động lực và tạo động lực cho người lao động. Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động tạo động lực cho người lao động tại Công ty nhiệt điện Nghi Sơn 1. Học viên: Nguyễn Minh Hoàng 5 Cao học: QTKD 2014A Viện Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Chương 3: Một số đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty nhiệt điện Nghi Sơn 1.
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp học viên đã nghiên cứu, tham khảo và sử dụng nhiều tài liệu của các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học có liên quan đến nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, công chức để tăng cƣờng tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Học viên: Nguyễn Minh Hoàng 6 Cao học: QTKD 2014A Viện Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Động lực lao động và sự cần thiết tạo động lực cho ngƣời lao động.
Khái niệm nguồn nhân lực, động lực và tạo động lực. Trên thị trƣờng ngày nay, các DN đang đứng trƣớc thách thức phải tăng cƣờng tối đa hiệu quả cung cấp các sản phẩm dịch vụ của mình. Điều này đòi hỏi phải có sự quan tâm tới chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ, tới các phƣơng thức Marketing và bán hàng tốt cũng nhƣ các quy trình nội bộ hiệu quả. Các DN hàng đầu thƣờng cố gắng để tạo sự cân bằng giữa tính chất nhất quán và sự sáng tạo.
Để đạt đƣợc mục tiêu này, họ dựa vào một số tài sản lớn nhất của mình đó chính là “nguồn nhân lực”. - Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực của một tổ chức là tất cả những người lao động tham gia làm việc cho tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực. - Động lực: Động lực là một thuật ngữ đƣợc sử dụng rất nhiều. Trong kinh tế động lực đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: + Theo từ điển tiếng việt: Động lực đƣợc hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển.com/dict/vn_vn/) + Theo Mitchell: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình.
+ Theo Bolton: Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu. Từ những định nghĩa trên ta có thể đƣa ra một cách hiểu chung nhất về động lực nhƣ sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con ngƣời thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Học viên: Nguyễn Minh Hoàng 7 Cao học: QTKD 2014A Viện Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Động lực cũng chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt.
Chúng đƣợc chia thành ba loại yếu tố cơ bản đó là: + Những yếu tố thuộc về bản chất con ngƣời: Là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con ngƣời thúc đẩy con ngƣời làm việc. + Những nhân tố thuộc môi trƣờng: Là những nhân tố bên ngoài có ảnh hƣởng đến ngƣời lao động. + Những yếu tố thuộc về bản chất công việc: Là những yếu tố chính quyết định ảnh hƣởng đến thù lao lao động và mức tiền lƣơng của ngƣời lao động trong tổ chức. - Tạo động lực: Tạo động lực là những kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con ngƣời thực hiện những hành vi theo mục tiêu.
Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của con ngƣời. Giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và khoảng cách đó luôn có động lực để rút ngắn khoảng cách đó. Nhu cầu gồm nhiều loại khác nhau tuỳ vào từng cách phân chia mà ta có: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu trƣớc mắt, nhu cầu lâu dài….Sự thoả mãn nhu cầu đƣợc hiểu là sự đáp ứng nhu cầu đến một mức độ nào đó. Không có nhu cầu nào đƣợc thoả mãn hoàn toàn mà chỉ có nhu cầu đƣợc thoả mãn đến mức độ nào đó.
Khi một nhu cầu đƣợc thoả mãn về cơ bản nó sẽ dần mất đi và nhu cầu mới lại xuất hiện. Con ngƣời không bao giờ hết nhu cầu, sự thoả mãn nhu cầu có ảnh hƣởng tích cực đến động lực của mỗi ngƣời. Nhu cầu luôn tồn tại vĩnh viễn nhƣng nhu cầu không phải là yếu tố quyết định đến động lực mà lợi ích mới thực sự là yếu tố quyết định đến động lực. Tạo động lực cho ngƣời lao động đƣợc hiểu là tất cả các biện pháp của nhà Quản trị có thể thực hiện đối với ngƣời lao động, tác động đến khả năng làm việc tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động.
Tạo động lực gắn liền với lợi ich hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực trong lao động. Song trên thực tế động lực đƣợc tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó nhƣ là một nhân tố cho sự phát Học viên: Nguyễn Minh Hoàng 8 Cao học: QTKD 2014A Viện Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. triển của xã hội. Muốn lợi ich tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể.
Sự cần thiết phải tạo động lực trong lao động, vai trò và ý nghĩa. Trong SXKD, muốn đạt đƣợc hiệu quả cao, năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh. Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức ra thì vấn đề động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của ngƣời lao động. Để tạo cho nhân viên vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả.
- Thực trạng công tác tạo động lực hiện nay: Một thực tế cho thấy rằng phần lớn các Công ty tại Việt Nam chƣa có một sự quan tâm thích đáng đối với các hoạt động tạo động lực cho nhân viên. Qua nghiên cứu một số học thuyết, quan điểm quản trị trên ta thấy đƣợc động lực có vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi ngƣời lao động và quyết định sự thành bại của DN. Đối với người lao động: - Ngƣời lao động sẽ có những hành vi tích cực trong việc hoàn thiện mình thông qua công việc. - Động lực thúc đẩy hành vi ở hai góc độ trái ngƣợc nhau đó là tích cực và tiêu cực.
Ngƣời lao động có động lực tích cực thì sẽ tạo ra đƣợc một tâm lý làm việc tốt, lành mạnh đồng thời cũng góp phần làm cho DN ngày càng vững mạnh hơn. Đối với Doanh nghiệp: Tạo động lực trong lao động có vai trò to lớn vì nó xuất phát từ yếu tố quan trọng cấu thành nên tổ chức, quyết định sự thành bại của tổ chức, đó là yếu tố con ngƣời. Bởi vì, suy cho cùng thì mọi hoạt động quản lý của DN đều đƣợc thực hiện bởi con ngƣời. Tạo động lực trong lao động tốt sẽ có ý nghĩa lớn đối với DN thể hiện ở các khía cạnh: Học viên: Nguyễn Minh Hoàng 9 Cao học: QTKD 2014A Viện Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
- Tăng khả năng cạnh tranh cho DN trên thị trƣờng. Sự cạnh tranh trên kinh doanh ngày càng diễn ra gay gắt. Xu thế của các tổ chức, các DN đang chuyển từ cạnh tranh bằng giá cả hàng hóa sang cạnh tranh bằng các yếu tố phi giá. Trong các yếu tố cạnh tranh phi giá, cạnh tranh bằng nguồn nhân lực là một xu thế tiến bộ đem lại thành công cho rất nhiều DN.
- Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật cùng với sự phát triển của nền kinh tế buộc các nhà quản lý phải tìm mọi cách để thích ứng. Do đó, nhằm giúp tổ chức, DN của mình thích ứng linh hoạt với sự biến đổi môi trƣờng, nắm bắt kịp thời các cơ hội thị trƣờng, vƣợt qua các khó khăn thách thức thì việc cơ cấu lại bộ máy nhân sự, đào tạo nhân sự, chế độ đãi ngộ v. là vấn đề then chốt của DN. - Nghiên cứu về quản trị tạo động lực cho ngƣời lao động sẽ giúp cho các nhà quản trị DN học đƣợc cách giao tiếp với ngƣời khác, biết cách đặt câu hỏi, biết cách lắng nghe, biết cách tìm ra ngôn ngữ chung với nhân viên, nhạy cảm hơn với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá chính xác nhân viên, lôi cuốn nhân viên say mê hơn với công việc, tránh đƣợc sai lầm trong việc tuyển chọn, sử dụng lao động để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Chức năng của tạo động lực trong lao động. Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: - Nhóm chức năng này chú trọng việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong DN có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc đƣợc giao và tạo điều kiện, động lực cho nhân viên đƣợc phát triển tối đa năng lực cá nhân. - Các DN áp dụng chƣơng trình hƣớng nghiệp và đào tạo cho nhân viên mới nhằm xác định năng lực thực tế của nhân viên và giúp nhân viên làm quen với công việc của DN. - Đồng thời, các DN cũng thƣờng lập các kế hoạch đào tạo, huấn luyện và đào tạo lại nhân viên mỗi khi có sự thay đổi về nhu cầu SXKD hoặc quy trình công nghệ, kỹ thuật.
Học viên: Nguyễn Minh Hoàng 10 Cao học: QTKD 2014A Viện Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. - Nhóm chức năng đào tạo, phát triển thƣờng thực hiện các hoạt động nhƣ hƣớng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng thực hành cho công nhân, bồi dƣỡng nâng cao trình độ lành nghề, cập nhật kiến thức cho cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ. Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực: - Nhóm chức năng này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong DN. Nhóm chức năng này gồm hai nhiệm vụ lớn: Một là: kích thích, động viên nhân viên; Hai là: duy trì và phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong DN.