CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỰ CHỦ NGUỒN NHÂN LỰC Ở BỆNH VIỆN CÔNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Định nghĩa tự chủ nguồn nhân lực tại bệnh viện công Để làm rõ định nghĩa của tự chủ nguồn nhân lực tại bệnh viện công, chúng tôi cho rằng trước hết cần phải có góc nhìn đúng đắn và hiểu biết cụ thể về các khái niệm tự chủ, nguồn nhân lực và tự chủ bệnh viện cũng như các thành tố cấu thành để từ đó có thể rút ra kết luận một cách toàn diện và đầy đủ nhất về tự chủ nguồn nhân lực tại bệnh viện công. Đây là chính là tiền đề quan trọng để định hình xây dựng toàn bộ tư tưởng và đưa ra những phân tích, nghiên cứu xuyên suốt bài nghiên cứu. Khái niệm tự chủ Ngày nay, trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới đang hướng tới mô hình đổi mới quản lý khu vực công (New Public Management) thì quá trình “tự chủ” cũng ngày càng được phổ biến rộng rãi ở các nước trên thế giới từ đầu thập kỷ 80.
Từ đó khái niệm về “tự chủ” cũng dần được mỗi quốc gia định nghĩa theo nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo nhận thức về vai trò cũng như mục đích của nhà nước đối với quốc gia của họ. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “tự chủ” được hiểu là loại quyền đặc biệt để có thể kiểm soát được một khu vực về quyền cai trị, con người hoặc bản thân một ai đó1. Trong khi đó, tại quốc tế, thuật ngữ “tự chủ” được định nghĩa rộng hơn, đề cập đến mức độ phân cấp trong việc ra quyết định cho nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm: quản lý mang tính chiến lược, tuyển dụng nhân lực, quản lý tài chính, quản lý nguồn nhân lực, điều hành hoạt động và quản lý chất lượng dịch vụ2. Tự chủ được thể hiện rõ nét thành hai mối quan hệ: Tự chủ giữa các đơn vị sự nghiệp công với nhà nước và tự chủ giữa đơn vị sự nghiệp công với các bộ phận trực thuộc trong đơn vị đó.
Tuy nhiên, tự chủ cũng có thể chỉ có tính chất thủ tục, hình thức (procedural) – quyền quyết định các phương tiện, cách thức để đạt đến mục tiêu đã được xác định trước, hoặc tự chủ có tính thực chất (substantial) – quyền quyết định các mục tiêu cũng như chương trình hoạt động3. 1 Hội đồng quốc gia (2005), Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam - Quyển 4, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 2 “Tự chủ bệnh viện: những thành công, khó khăn, bất cập và bài học kinh nghiệm”, Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế, [https://healthvietnam.vn/thu-vien/tai-lieu-tieng-viet/benh-vien/tu-chu-benh-vien-nhung-thanh-cong-kho- khan-bat-cap-va-bai-hoc-kinh-nghiem] (truy cập ngày 20/12/2022) 3 Lê Đức Thọ (2021), “Tự chủ về nhân lực trong các trường đại học công lập ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tài chính – Quản trị kinh doanh, (21), tr. 9 Như vậy, theo nhóm tác giả, “tự chủ” có thể được hiểu là khả năng mà một cá nhân, đơn vị hoặc tổ chức được quyền tự đưa ra những quyết định liên quan đến các hoạt động quản lý, điều hành, giám sát về một lĩnh vực nhất định trong phạm vi quyền hạn của mình và ở một mức độ nhất định mà nhà nước cho phép thực hiện.
Khái niệm nguồn nhân lực Ngày nay, trong quá trình phát triển kinh tế không ngừng nhằm bắt kịp với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa của đất nước, xã hội hiện đại đã đặt ra nhu cầu về một lượng lớn các nguồn lực như nguồn lực về công nghệ, về vật tư, máy móc thiết bị hoặc về dịch vụ,… Tuy nhiên, nhìn chung, nguồn nhân lực vẫn là nguồn lực đóng vai trò quan trọng và là yếu tố quyết định cũng như chi phối các nguồn lực khác trong xã hội. Sự khác biệt của quốc gia này với quốc gia khác, giữa xã hội này với xã hội khác phần lớn được thể hiện ở cách họ tận dụng và sử dụng nguồn lực vốn có xuất phát từ con người như thế nào một cách hiệu quả và tối ưu nhất để đem lại lợi ích lớn nhất cho toàn xã hội. Cho đến nay, khái niệm về nguồn nhân lực còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Theo Liên Hợp Quốc, nguồn nhân lực là chỉ về “trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của con người hiện có hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế – xã hội trong một cộng đồng”4.
Cụ thể hơn, trích theo nội dung báo cáo “Chỉ số phát triển thế giới” của Ngân hàng Thế giới: “Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn con người” bao gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… mà mỗi cá nhân thành viên sở hữu”5. Theo hai định nghĩa trên, nguồn nhân lực được xem như phần “vốn” sẵn có mà một con người đương nhiên được sở hữu, trong đó bao gồm ba yếu tố cơ bản là thể lực, trí lực và tâm lực. Một mặt, ba yếu tố trên có mối quan hệ biện chứng, tức là có sự tác động, chuyển hóa và quy định lẫn nhau. Mặt khác, đây cũng chính là những điều kiện cần và đủ để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong đó, trí lực là điều kiện đủ, mang tính quyết định để đánh giá khả năng lao động của một người thông qua năng lực tư duy, quản lý và giải quyết công việc, ngoài ra còn là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực để đảm nhận hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả. Tuy nhiên, thể lực và tâm lực cũng là điều kiện mang tính cần thiết của nguồn nhân lực. Đối với những công việc đặc thù với lĩnh vực có 4 Nguyễn Sinh Cúc (2014), “Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực”, Tạp chí Lý luận chính trị online, (02). 10 chuyên môn cao đòi hỏi người lao động phải đáp ứng yêu cầu về sức khỏe và kỹ năng nghề nghiệp nhất định.
Theo một nghiên cứu khác của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), khái niệm nguồn nhân lực là “toàn bộ số người trong độ tuổi có khả năng lao động, hiểu theo nghĩa rộng, đây là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội; theo nghĩa hẹp, là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự nghiệp phát triển xã hội”. Định nghĩa trên của ILO đã giúp người đọc nhìn nhận nguồn nhân lực theo hai mặt khách quan và đa chiều. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho nền sản xuất xã hội, tức là cung cấp nguồn lực xuất phát từ con người cho sự phát triển. Như vậy, có thể hiểu nguồn nhân lực là bao gồm toàn bộ dân cư là những người đáp ứng đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động6 đều được xem là nguồn nhân lực và có thể đóng góp sức lao động của bản thân cho toàn xã hội.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Nói cách khác, thông qua nguồn nhân lực tại mỗi quốc gia có thể đánh giá về khả năng, tiềm lực lao động xã hội mà quốc gia đó đang có. Đồng thời, theo ILO, đây còn là nhân tố của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế - chính trị xã hội. Kết luận trên là sự nhìn nhận và phân tích dưới hai khía cạnh.
Cụ thể: Dưới góc độ phát triển kinh tế của đất nước, nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: Thứ nhất, về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; Thứ hai là về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động.7 Dưới dưới góc độ kinh tế chính trị: Nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia8. Trí lực được đề cập ở đây ngoài kỹ năng làm việc, trình độ lành nghề thì còn phải là những tư tưởng, lối tư 6 Nguyễn Sinh Cúc (2014), (3). 11 duy và kiến thức được kết tinh và đúc kết từ truyền thống, văn hóa, từ hoàn cảnh lịch sử của từng quốc gia. Từ đó, vận dụng vào thực tiễn để sáng tạo, sản xuất ra các công cụ lao động, tư liệu sản xuất phục vụ cho nhu cầu của đất nước.
Tuy rằng ngày nay, công nghệ AI (Artificial Intelligence) đã và đang thay thế dần một số vị trí của con người trong lao động, đặc biệt là sản xuất hàng hóa. Báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) năm 2021 chỉ ra những nghề có nguy cơ bị robot thay thế là công nhân nhà máy (44%); nhân viên thu ngân (40%), lái xe taxi (20%); nhân viên chăm sóc khách hàng (18%), phi công (16%). Tuy nhiên, tầm quan trọng của nguồn nhân lực vẫn không thể phủ nhận là một yếu tố rất không thể thiếu để vận hành và phát triển đất nước. Từ các khái niệm trên, theo chúng tôi, nguồn nhân lực nhìn chung là nguồn lao động chính cho sự phát triển của đất nước, bao gồm toàn bộ những người đang có nhu cầu tìm việc và trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của xã hội về thể lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp bao gồm kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và trình độ lành nghề.
Khái niệm tự chủ bệnh viện Hiện nay, khái niệm về tự chủ bệnh viện vẫn chưa có sự thống nhất chung trên toàn thế giới, do sự khác biệt về tình hình kinh tế, xã hội, chính trị mà mỗi quốc gia, tổ chức đều có những quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, chúng tôi nhận thấy khái niệm về tự chủ bệnh viện vẫn có những điểm chung đặc trưng: Thứ nhất, theo WHO thì quyền tự chủ của bệnh viện đề cập đến những cải cách phân cấp thẩm quyền - ở các mức độ khác nhau – cho các cơ sở y tế đối với những quyết định liên quan đến tài chính và quản lý. Những cải cách này nhằm mục đích cải thiện mô hình tổng thể về phân bổ nguồn lực trong hệ thống y tế của quốc gia và hiệu quả hoạt động của các bệnh viện công.