Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng văn bản quản lý nhà nước. Chương 2: Thực trạng chất lượng nghị quyết của HĐND thị xã Quảng Trị. Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng nghị quyết của HĐND thị xã Quảng Trị. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC 1.
Khái quát về chất lƣợng văn bản quản lý nhà nƣớc. Khái niệm văn bản quản lý nhà nƣớc Hoạt động giao tiếp của nhân loại được thực hiện chủ yếu bằng ngôn ngữ. Phương tiện giao tiếp này được sử dụng ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người. Với sự ra đời của chữ viết, con người đã thực hiện được sự giao tiếp ở những khoảng không gian cách biệt nhau vô tận qua các thế hệ.
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn được thực hiện qua quá trình phát và nhận các ngôn bản. Là sản phẩm ngôn ngữ của hoạt động giao tiếp ngôn bản tồn tại ở dạng âm thanh (là các lời nói) hoặc được ghi lại dưới dạng chữ viết. Ngôn bản được ghi lại dưới dạng chữ viết chính là văn bản. Như vậy, văn bản là phương tiện ghi lại và truyền đạt thông tin bằng một ngôn ngữ (hay ký hiệu) nhất định.
Với cách hiểu rộng như vậy, văn bản còn có thể gọi là vật mang tin được ghi bằng ký hiệu ngôn ngữ. Văn bản theo nghĩa rộng là một công cụ để ghi lại và truyền đạt thông tin; theo nghĩa này, mọi sách vở, giấy tờ, khểu hiệu, băng ghi âm đề được coi là văn bản, một phương tiện ghi nhận và truyền đạt thông tin [16, tr. Theo nghĩa hẹp, văn bản được hiểu là toàn bộ giấy tờ, tại liệu được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế, hoặc tài liệu cá nhân có giá trị, ý nghĩa pháp lý, xã hội nhất định [16, tr. Từ những quan niệm về văn bản trên, có thể hiểu văn bản quản lý nhà nước là công cụ để ghi nhận những nguyên tắc pháp lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tuy nhiên, hiện nay khái niệm văn bản QLNN vẫn còn có 9 nhiều ý kiến khác nhau. Có tác giả cho rằng, văn bản QLNN là hình thức thể hiện quyết định của văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục và hình thức do pháp luật quy định, trong đó có chứa quy tắc xử sự chung, áp dụng nhiều lần và hiệu lực của nó không phụ thuộc vào sự áp dụng [17, tr.45]; tác giả khác lại cho rằng, văn bản QLNN là quá trình sáng tạo pháp luật, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội ban hành theo trình tự thủ tục và hình thức nhất định nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội…[18, tr. Trong hoạt động quản lý nhà nước, trong giao dịch giữa các cơ quan nhà nước với nhau, cơ quan nhà nước với tổ chức, công dân, với các yếu tố nước ngoài, v. văn bản là phương tiện thông tin cơ bản, là sợi dây liên lạc chính, là một trong những yếu tố quan trọng, nhất thiết để kiến tạo thể chế của nền hành chính nhà nước.
Có thể thấy, văn bản quản lý nhà nước chính là phương tiện để xác định và vận dụng các chuẩn mực pháp lý vào quá trình quản lý nhà nước. Xây dựng các văn bản quản lý nhà nước, do đó, cần được xem là một bộ phận hữu cơ của hoạt động quản lý nhà nước và là một trong những biểu hiện quan trọng của hoạt động này. Các văn bản quản lý nhà nước luôn luôn có tính pháp lý chung. Tuy nhiên biểu hiện của tính chất pháp lý của văn bản không giống nhau.
Có những văn bản chỉ mang tính thông tin quản lý thông thường, trong khi đó có những văn bản lại mang tính cưỡng chế thực hiện. Theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP, ngày 5/3/2020 của Chỉnh phủ quy định về công tác văn thư: “Văn bản là thông tin thành văn được truyền đạt bằng ngôn ngữ hoặc ký hiệu, hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức và được trình bày đúng thể thức, kỹ thuật theo quy định”.3] Như vậy, văn bản quản lý nhà nước là những quyết định và thông tin quản lý thành văn, do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành theo thẩm 10 quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân [17]. Các loại văn bản quản lý nhà nƣớc. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước của nước ta bao gồm: văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản chuyên môn, kỹ thuật.
Văn bản quy phạm pháp luật “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015” [13]. Trong đó, quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành. Ở nước ta, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành.
Điều 4, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2015 quy định các loại văn bản quy phạm pháp luật và chủ thể ban hành như sau: - Hiến pháp, Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội. - Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. 11 - Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. - Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. - Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. - Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước. - Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. - Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã 1. Văn bản hành chính và văn bản chuyên môn kỹ thuật “Văn bản hành chính” là văn bản hình thành trong quá trình chỉ đạo, điều hành, giải quyết công việc của các cơ quan, tổ chức” [6]. Văn bản hành chính đưa ra các quyết định cá biệt, do đó không thể dùng để thay thế cho văn bản quy phạm pháp luật [3] Văn bản hành chính gồm: Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản thỏa thuận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, phiếu gửi, phiếu chuyển, phiếu báo, thư công.
12 Ngoài ra, trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước còn có các văn bản chuyên môn - kỹ thuật, đây là hệ thống văn bản đặc thù thuộc thẩm quyền ban hành của một số cơ quan Nhà nước nhất định theo quy định của pháp luật… 1. Chất lƣợng văn bản quản lý nhà nƣớc Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc), làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác. Theo Oxford Pocket Dictionary: Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản. Theo ISO 8402: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn… Từ định nghĩa trên, có thể rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng: (1) Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu.
(2) Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. Như vậy có thể hiểu: Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản, là mức độ hoàn thiện của sự vật (sự việc), tạo cho sự vật (sự việc) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra. Chất lượng văn bản quản lý nhà nước là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản, mức độ hoàn thiện của văn bản, bao gồm: nội dung; thể thức; trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành; hiệu lực về không gian, đối tượng áp dụng…có khả năng đáp ứng tốt phương hướng, mục tiêu các quyết định quản lý của chủ thể quản lý. Văn bản quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng khi đáp ứng các yêu cầu về nội dung, hình thức và trình tự thủ tục soạn thảo.