Luận án tiến sĩ về nâng cao chất lượng hướng dẫn viên du lịch ở Hà Nội

Luận án tiến sĩ phân tích nâng cao chất lượng hướng dẫn viên du lịch tại các doanh nghiệp lữ hành ở Hà Nội, góp phần phát triển ngành du lịch.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Kinh doanh thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

237
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH CỦA DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH

3. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG VÀ HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

4. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

5. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI CÁC BỘ, NGÀNH, TỔ CHỨC LIÊN QUAN VÀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chất lượng hướng dẫn viên du lịch

Chất lượng hướng dẫn viên du lịch (HDVDL) là yếu tố quyết định đến sự thành công của các doanh nghiệp lữ hành (DNLH) tại Hà Nội. HDVDL không chỉ là người cung cấp thông tin mà còn là cầu nối giữa khách du lịch và văn hóa địa phương. Theo Weiler (2014), HDVDL đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra trải nghiệm du lịch tích cực cho khách hàng. Để nâng cao chất lượng dịch vụ, cần phải chú trọng đến việc đào tạo và phát triển kỹ năng cho HDVDL. Việc này không chỉ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ du lịch mà còn nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Đánh giá chất lượng HDVDL cần dựa trên các tiêu chí như kiến thức chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và thái độ phục vụ. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của du khách và sự phát triển bền vững của ngành du lịch.

1.1. Định nghĩa và vai trò của hướng dẫn viên du lịch

HDVDL được định nghĩa là người cung cấp thông tin và hướng dẫn cho du khách trong suốt chuyến đi. Họ không chỉ là người dẫn đường mà còn là người truyền tải văn hóa và lịch sử của địa phương. Vai trò của HDVDL trong ngành du lịch là rất quan trọng, vì họ là người đại diện cho DNLH và ảnh hưởng đến hình ảnh của điểm đến. Chất lượng HDVDL tốt sẽ tạo ra ấn tượng tích cực cho du khách, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và phát triển bền vững cho ngành du lịch Hà Nội.

II. Thực trạng chất lượng hướng dẫn viên du lịch tại Hà Nội

Tình hình hiện tại cho thấy, đội ngũ HDVDL tại Hà Nội có số lượng lớn nhưng chất lượng chưa đồng đều. Theo thống kê, chỉ khoảng 5% HDVDL có hợp đồng lao động chính thức, trong khi phần lớn hoạt động tự do. Điều này dẫn đến việc thiếu sự quản lý và đào tạo bài bản cho HDVDL. Nhiều HDVDL không đáp ứng được yêu cầu về ngoại ngữ và kỹ năng nghề nghiệp, gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ du lịch. Các DNLH cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình trạng này, bao gồm việc tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu và nâng cao nhận thức về vai trò của HDVDL trong ngành du lịch.

2.1. Đánh giá chất lượng hướng dẫn viên du lịch

Đánh giá chất lượng HDVDL cần dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Các yếu tố như kiến thức chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và thái độ phục vụ là những tiêu chí quan trọng. Nghiên cứu cho thấy, thái độ và đạo đức nghề nghiệp là yếu tố quyết định nhất trong việc đánh giá chất lượng HDVDL. Điều này cho thấy, việc nâng cao chất lượng HDVDL không chỉ dừng lại ở việc đào tạo kỹ năng mà còn cần chú trọng đến việc xây dựng thái độ phục vụ chuyên nghiệp và thân thiện.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng hướng dẫn viên du lịch

Để nâng cao chất lượng HDVDL, các DNLH cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần đổi mới công tác tuyển dụng HDVDL, ưu tiên những ứng viên có trình độ chuyên môn cao và kỹ năng giao tiếp tốt. Thứ hai, cần hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nghề nghiệp cho HDVDL, bao gồm các khóa học về kỹ năng giao tiếp, kiến thức văn hóa và lịch sử địa phương. Cuối cùng, việc thực hiện các chính sách giữ chân HDVDL cũng rất quan trọng, nhằm tạo ra môi trường làm việc tốt và khuyến khích họ cống hiến cho ngành du lịch.

3.1. Đổi mới công tác đào tạo hướng dẫn viên du lịch

Đào tạo HDVDL cần được thực hiện một cách bài bản và chuyên nghiệp. Các DNLH nên hợp tác với các cơ sở đào tạo để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế. Việc tổ chức các khóa đào tạo định kỳ sẽ giúp HDVDL cập nhật kiến thức và kỹ năng mới, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Ngoài ra, cần có các chương trình đánh giá định kỳ để theo dõi sự tiến bộ của HDVDL và có những điều chỉnh kịp thời.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực 1.

Một số công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực Từ những năm 80 của thế kỷ XX, thuật ngữ “nguồn nhân lực” đã được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển, với ý nghĩa là nguồn lực con người, phản ánh sự đánh giá lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” thể hiện sự công nhận của phương thức quản lý mới trong sử dụng nguồn lực con người. Kể từ thập niên 90 của Thế kỷ trước trở lại đây đã có nhiều nghiên cứu về nguồn nhân lực (NNL) một cách có hệ thống, nhất là ở Mỹ, Châu Âu và một số nước phát triển như Anh, Canada, Úc… Các công trình nghiên cứu ban đầu về nguồn nhân lực do các nhà khoa học trên thế giới thực hiện như: Milton Freidman, Simon Kuznet, Gary Becker. Sau đó, các nhà khoa học tiếp tục kế thừa và phát triển lý thuyết NNL như: L.Beg, Nicholas Henry (1996), S.Milkovich và John W.Milkovich và John W.

Nghiên cứu của các tác giả kể trên khái quát NNL là tập hợp những người tạo nên lực lượng lao động của một tổ chức, lĩnh vực kinh doanh, ngành, hoặc nền kinh tế. Xem xét các nghiên cứu về nhân lực gắn với một tổ chức thì theo Trần Kim Dung (2009), Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng nguồn lực là sức lực nằm trong mỗi con người và làm cho con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động. Phạm Minh Hạc (2007) và Nguyễn Thế Phong (2010) cùng quan điểm cho rằng nguồn lực trong tổ chức chính là một bộ phận của NNL xã hội, bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối hợp các khả năng riêng của mỗi con người trong tổ chức đó. Tác giả Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2012); Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016) đồng quan điểm cho rằng nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người, nó bao gồm cả thể lực và trí lực.

Một số công trình nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực - Nghiên cứu về tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Monica Lee (Human resource development as we know it, 2012) cho rằng: sức khỏe, năng lực làm việc, kỹ năng, kỹ xảo, tác phong làm việc, tính chủ động luan an 7 sáng tạo trong công việc,. chính là các cấu thành chủ yếu của chất lượng NNL và khẳng định, việc nâng cao chất lượng NNL có ảnh hưởng tới sự thành bại của quốc gia, ngành, địa phương và tổ chức. Các nguồn lực trong mỗi con người có thể bao gồm: thể lực và trí lực - theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2012); thể lực, trí lực, tâm lực – theo Nguyễn Thị Hồng Cẩm (2013) và Lê Thị Hồng Điệp (2010); thể lực, trí lực và nhân cách, phẩm chất - theo Phan Văn Kha (2007), Phạm Minh Hạc (2007), Mai Quốc Chánh (1999). Cụ thể hơn, tác giả Phạm Văn Đức (Vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, 2011) cho rằng các nguồn lực của con người bao gồm thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách, đạo đức, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn, tính năng động trong công việc, thái độ với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của người lao động.

Nghiên cứu về nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu xuất khẩu lao động, Bùi Sỹ Tuấn (Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động của Việt Nam đến năm 2020, 2012) tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động bao gồm: (i) Yếu tố về thể lực; (ii) Yếu tố về giáo dục - đào tạo; (iii) Yếu tố về ý thức xã hội. - Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực Nguyễn Kim Diện (Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương, 2008), nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức nhà nước đưa ra 2 nhóm nhân tố là khách quan và chủ quan. Nhóm nhân tố khách quan, gồm: Hoàn cảnh và lịch sử ra đời của công chức; tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; trình độ văn hóa, sức khỏe chung của dân cư, sự phát triển của nền giáo dục, sự phát triển của sự nghiệp y tế; chất lượng thị trường cung ứng lao động; sự phát triển của công nghệ thông tin; sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước… Nhóm nhân tố chủ quan gồm: bầu cử công chức; đào tạo, bồi dưỡng công chức; sử dụng đội ngũ công chức; phân tích công việc trong cơ quan hành chính nhà nước; đánh giá thực hiện công việc của cơ quan hành chính; tạo động lực cho đội ngũ công chức hành chính nhà nước. Tuy nhiên trong nghiên cứu này, một số nhân tố ảnh hưởng như mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy; cơ cấu đội ngũ công chức (theo ngạch, trình độ, theo nhóm tuổi, giới tính, số năm công tác) chưa được tác giả đề cập… Nghiên cứu của Vũ Thị Hà (Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn Hà Nội, 2016), xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL của các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn Hà Nội, bao gồm các nhân tố chính như: Điều kiện dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho người lao động, điều kiện và môi trường làm việc; chính sách thù lao, đãi ngộ và tạo động lực; chính sách tuyển dụng, bố trí sử dụng nhân luan an 8 lực trong doanh nghiệp; hoạt động đào tạo trong doanh nghiệp.

Ngoài ra, còn các nhân tố khách quan như: Nhu cầu lao động quốc tế; Chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương; Chất lượng của hệ thống giáo dục và đào tạo; Sự phát triển kinh tế xã hội và địa phương; Thị trường lao động; Hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe. Như vậy, một số nghiên cứu trên đều cho rằng chất lượng NNL đều chịu ảnh hưởng từ hai môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp thuộc về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, giáo dục, y tế, công nghệ, thị trường lao động…; các yếu tố bên trong được xác định bao gồm: tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, phân tích, đánh giá thực hiện công việc, tạo động lực cho người lao động, điều kiện làm việc, văn hóa doanh nghiệp. - Nghiên cứu về các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tác giả Bùi Sỹ Tuấn (2010) nghiên cứu về nâng cao chất lượng NNL nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động của Việt Nam đã đưa ra các nhóm giải pháp bao gồm: giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng và đào tạo lao động, giải pháp về phát triển thị trường xuất khẩu, giải pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức về yêu cầu chất lượng kỹ năng nghề trong hoạt động xuất khẩu lao động và nhóm giải pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức về yêu cầu chất lượng kỹ năng nghề trong hoạt động xuất khẩu lao động.

Trần Thị Huyền Thanh (2020) khi nghiên cứu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã đưa các nhóm giải pháp đó là: nhóm về cơ chế, chính sách; nhóm giải pháp về đào tạo nâng cao chất lượng NNL, nhóm giải pháp thu hút và sử dụng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp và nhóm giải pháp về hoàn thiện thị trường lao động. Như vậy, trong các nghiên cứu trên đều nhấn mạnh đến giải pháp đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngoài ra còn một số giải pháp khác như: tuyển dụng, thu hút, sử dụng, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao nhận thức và nâng cao đời sống cho người lao động. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực du lịch và chất lượng nguồn nhân lực du lịch 1. Các nghiên cứu về nguồn nhân lực du lịch - Nghiên cứu về vai trò của nguồn nhân lực du lịch Szivas E, M Riley (Tourism employment during economic transition, 1999) nhìn nhận, đánh giá thực trạng và những yêu cầu của NNL du lịch trong nền kinh tế đang chuyển đổi.

Đối với các nước đang phát triển như ở Việt nam và một số quốc gia khác trên thế giới, nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế giới, nhiều thách thức phải đối mặt trong đó có thách thức về kỹ năng, trình độ NNL luan an 9 trong nước trước làn sóng di chuyển về lao động quốc tế. Đối với NNL du lịch cũng không phải là một ngoại lệ, hơn nữa sự dịch chuyển này rất mạnh mẽ vì du lịch là ngành kinh tế, dịch vụ có tính quốc tế hóa cao. Salih Kusluvan (Managing employee attitudes and behaviors in the tourism and hospitality industry, 2003) có quan điểm cho rằng các nhân viên là một trong những nguồn lực quan trọng, là tài sản của các DN kinh doanh dịch vụ du lịch và khách sạn. Họ là những người có thể cung cấp dịch vụ tuyệt vời, đáp ứng và vượt quá mong đợi của người tiêu dùng, đạt được lợi thế cạnh tranh và hiệu quả tổ chức.

Theo đó, chất lượng NNL kém dẫn đến sự không hài lòng của khách hàng. Sự liên kết chặt chẽ giữa chất lượng của nhân viên và cung cấp dịch vụ là một vấn đề quan trọng đối với quản lý NNL. - Nghiên cứu về phân loại nhân lực du lịch Trần Sơn Hải (2010), Đinh Thị Hải Hậu (2014), cho rằng NNL du lịch bao gồm toàn bộ các nhân lực trực tiếp và gián tiếp tham gia vào quá trình phát triển du lịch. Nguyễn Trọng Đặng (Quản trị doanh nghiệp khách sạn – du lịch, 2008) chỉ ra rằng các loại lao động trong DNDL bao gồm 2 loại: Lao động quản trị bao gồm giám đốc doanh nghiệp, phó giám đốc doanh nghiệp, trưởng các phòng chức năng, trưởng các bộ phận tác nghiệp, quản trị viên; Lao động thừa hành bao gồm nhân viên marketing, nhân viên lễ tân, nhân viên buồng, nhân viên bàn, bar, nhân viên bếp, HDVDL, các nhân viên khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ của Vũ Thị Thu Huyền, mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về nâng cao chất lượng hướng dẫn viên du lịch ở Hà Nội", tập trung vào việc cải thiện chất lượng dịch vụ của các hướng dẫn viên du lịch tại Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực và chất lượng phục vụ của đội ngũ hướng dẫn viên, từ đó góp phần phát triển ngành du lịch bền vững tại khu vực này. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức nâng cao chất lượng dịch vụ, cũng như những thách thức mà ngành du lịch đang phải đối mặt.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực du lịch, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Khai thác văn hóa ẩm thực để phát triển du lịch tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nơi đề cập đến việc sử dụng văn hóa ẩm thực như một yếu tố thu hút khách du lịch. Bài viết Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại Làng Chuông, Thanh Oai, Hà Nội cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển du lịch tại các làng nghề, một phần quan trọng trong bức tranh du lịch của Hà Nội. Cuối cùng, bài viết Vai trò của Nhà nước đối với phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chính sách và vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy ngành du lịch. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành du lịch tại Hà Nội và Việt Nam.