mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt với những tiện ich: an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm, rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng. Các dịch vụ ngân hang khác Mua bán ngoại tệ: ngân hàng thực hiện mua bán các đồng tiền khác nhau với khách hàng và hưởng chênh lệch giá mua bán. Bao quản tai sản hộ Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn 1. Khái quát về hoạt động bảo lãnh của NHTM 1.
Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh được khẳng định là một hình thức tín dụng NH theo khoản 18 Điều 4 Luật các TCTD số 47/2010/QH12 được ban hành ngày 16/06/2010: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đây đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận ". SV: Đào Thị Thúy Hòa 8 Lớp: Ngân hàng 57A Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD. Phùng Thanh Quang Gan đây nhất là Điều 3 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng khẳng định: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không day đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh ”” Như vậy, khái niệm bảo lãnh ngân hàng tại các văn bản pháp luật trên đây đều chỉ ra rằng: Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của một bên thứ ba ngoài quan hệ hợp đồng giữa hai bên. Theo Khoản 12 Điều 3 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng: “Cam kết bảo lãnh là văn ban do bên bảo lãnh hoặc bên bảo lãnh đối ứng hoặc bên xác nhận bảo lãnh phát hành theo một trong các hình thức sau: a) Thư bảo lãnh là văn bản cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bao lãnh.
b) Hợp đông bảo lãnh là văn bản thỏa thuận giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh và các bên có liên quan (nếu có) về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không day đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Bảo lãnh NH là mỗi quan hệ đa phương, với sự tham gia của nhiều chủ thể Hoạt động bảo lãnh NH phải có sự tham gia của ít nhất ba bên, bao gồm: bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Trong đó: e “Bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện bảo lãnh cho bên được bảo lãnh. ” (Khoản 5 Điều 3 Thông tư số 07/2015/TT- NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng) e “Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm cả tổ chức tín dung, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng ở nước ngoài), cá nhân được bảo lãnh bởi bên bảo lãnh, bên bảo lãnh đối ứng.” (Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng) e “Bên nhận bảo lãnh là tổ chức (bao gồm cả tổ chức tin dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng ở nước ngoài), cá nhân có quyên thụ hưởng bảo lãnh do bên bảo lãnh, bên xác nhận bảo lãnh phát hành.
” (Khoản 7 Điều 3 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng) SV: Đào Thị Thúy Hòa 9 Lớp: Ngân hàng 57A Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD. Phùng Thanh Quang Ngoài ra tham gia bao lãnh có thé con các bên khác như: bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh,. tùy vào từng loại hình bảo lãnh. Trong mối quan hệ đa phương này, mối quan hệ gốc bao giờ cũng được hình thành giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Từ đó sẽ nảy sinh thêm hai quan hệ nữa, bao gồm: quan hệ giữa NH bảo lãnh với bên được bảo lãnh và giữa bên nhận bảo lãnh với NH bảo lãnh. Mi quan hệ trong bảo lãnh ngân hàng là độc lập Tuy bảo lãnh NH là quan hệ đa phương, mối quan hệ này là cơ sở hình thành nên mối quan hệ khác, nhưng chúng lại có sự độc lập. Sự độc lập của bảo lãnh được hiểu là sự độc lập trong quan hệ giữa NH bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh với quan hệ giữa bên được bảo lãnh và NH bảo lãnh. Thậm chí khi bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ với NH bảo lãnh thì NH bảo lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình với bên nhận bảo lãnh như đã cam kết.
Bảo lãnh là một cam kết mang tính chất bảo đảm gián tiếp Bảo lãnh là một hình thức cấp tín dụng đặc biệt khi NH không phải lập tức bỏ vốn cho khách hàng sử dụng, cũng không phải sử dụng vốn đề thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba, mà trách nhiệm đầu tiên thuộc về bên được bảo lãnh. Theo quy định thì chỉ khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ thì NH mới phải thực hiện thay. Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng của ngân hàng NH bảo lãnh đã sử dụng uy tín, năng lực tài chính của mình để cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh. Khi quyết định bảo lãnh, NH không phải xuất tiền ngay, do đó sẽ không ảnh hưởng đến cơ cấu tài sản — nguồn vốn, hay bảng cân đối kế toán của NH.
Chính vì nguyên nhân đã khiến bảo lãnh NH được xếp vào hoạt động ngoại bảng của NH. Bảo lãnh tiễn hành trên cơ sở chứng từ Bao lãnh NH được tiễn hành dựa trên hợp đồng thương mại giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Việc bảo lãnh bằng lời nói là không được chấp nhận trong bảo lãnh NH. Văn bản bảo lãnh có thể là thư, telex hoặc ký hậu trên các hối phiếu, lệnh phiếu hay giấy nhận nợ.
Nghĩa vụ bảo lãnh của NH cũng được thực hiện dựa trên văn bản là cam kết bảo lãnh của NH. Người thụ hưởng khi yêu cầu NH thực hiện nghĩa vụ phải xuất trình được giấy tờ cần thiết. Nếu chứng từ được phát hiện là bất hợp lệ thì NH có quyền từ chối thanh toán hoặc phải thanh toán ngay lập tức nêu bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp, không có dấu hiệu lừa đảo. Đối với ngân hàng: bảo lãnh là một nghiệp vụ thu phi Lợi ích đầu tiên và cũng là lợi ích quan trọng nhất mà bảo lãnh đem lại cho ngân SV: Đào Thị Thúy Hòa 10 Lớp: Ngân hàng 57A Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD.
Phùng Thanh Quang hàng chính là phí bao lãnh. Với mỗi một hợp đồng bảo lãnh, NH sẽ thu phí dựa trên tỷ lệ phần trăm dựa trên số tiền cam kết bảo lãnh. Ngoài ra, dé được bảo lãnh, khách hàng thường phải ký quỹ tại NH một số tiền nhất định và được lưu giữ trên tài khoản thanh toán của khách hàng. Tuy đây không phải nguồn tiền quá lớn, nhưng cũng giúp cho NH có được một lượng vốn nhàn rỗi với chỉ phí thấp hoặc thậm chí không mất phí.
Nhờ triển khai hoạt động bảo lãnh, NHTM vẫn có được nguôn thu, phát triển các nghiệp vụ mà không phải bỏ vốn. Đối với khách hàng: bảo lãnh được coi là một công cụ hỗ trợ e Công cụ bảo đảm Có thể nói bảo lãnh được ra đời chính vì chức năng này của bảo lãnh. Bảo lãnh được xem là một hình thức bảo đảm an toàn về vốn cho người nhận bảo lãnh. Theo chức năng này, trong trường hợp cam kết không được thực hiện bởi người được bảo lãnh, người thụ hưởng sẽ được bồi thường về tài chính bởi bên bảo lãnh.
e Công cụ tải tro Nhờ có bảo lãnh, khách hàng không phải xuất quỹ, bỏ vốn vào kinh doanh, được hỗ trợ tài chính thông qua khoản vay hoặc được làm chậm thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, tuy không cấp vốn một cách trực tiếp mà thông qua phát hành bảo lãnh nhưng NH vẫn đem lại những thuận lợi về tài chính cho khách hàng như khi cho vay thông thường. Với ý nghĩa này, bảo lãnh trở thành dịch vụ NH có vai trò đặc biệt quan trọng, kịp thời đáp ứng các yêu cầu về vốn, từ đó giúp việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh được thuận lợi. e_ Công cụ dé đôn đốc hoàn thành hop đồng Do việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh thay cho khách hàng có thể gặp nhiều rủi ro, vì vậy để tránh gặp tình trạng này, NH phát hành bảo lãnh phải thường xuyên đôn đốc, giám sát, kiểm tra, tạo ra một áp lực đề giúp khách hàng thực hiện tốt hợp đồng, giảm thiểu sai phạm.
Mặt khác, người được bảo lãnh luôn bị áp lực của việc phải bồi thường bảo lãnh nếu họ vi phạm hợp đồng dẫn đến NH phải trả thay, khi đó lãi suất áp dụng đối với khoản nhận nợ luôn cao hơn lãi suất cho vay thông thường. Do vậy, bảo lãnh NH có vai trò là động lực thúc đây, đôn đốc người được bảo lãnh thực hiện tốt hợp đồng đã ký kết. Đối với ngân hàng phát hành bảo lãnh Bảo lãnh là một dịch vụ NH cung ứng cho nền kinh tế, đem lại cho NH nguồn thu to lớn từ phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận NH một khoản khá lớn, chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tông thu phí dịch vụ của các NH hiện nay.
Ưu điểm của SV: Đào Thị Thúy Hòa 11 Lớp: Ngân hang 57A Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD. Phùng Thanh Quang bảo lãnh là NH không phải xuất vốn ra ngay, do đó không mất chi phi co hội cho mục đích kinh doanh khác. Không chỉ đóng góp vào lợi nhuận, bảo lãnh còn giúp đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, giúp NH giảm thiêu rủi ro mất vốn, đáp ứng nhu cầu, gắn bó hơn với khách hàng truyền thống và thu hút các khách hàng mới. Từ đó là đòn bay thúc day các hoạt động khác của NH như thanh toán xuất nhập khẩu, huy động vốn,.