CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH LÂM ĐỒNG CHƯƠNG 4. GIẢI PHÁP TĂNG TRƯỞNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH LÂM ĐỒNG 10 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái quát chung về NHTM 2. Tổng quan về NHTM 2.1 Khái niệm NHTM Theo Luật Tổ chức tín dụng (2010) và Luật sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng (2017), Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận Tóm lại, hiểu chung nhất thì NHTM là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Nghiệp vụ kinh doanh của NHTM rất đa dạng cùng với sự phát triển của nhu cầu khách hàng, kinh tế và xã hội, khoa học kỹ thuật, hoạt động của NHTM cũng có nhiều phương pháp mới, nhưng các nghiệp vụ kinh doanh về cơ bản là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, đầu tư.2 Các hoạt động của NHTM Huy động vốn: Theo Lê Văn Tú (2014), Ngân hàng kinh doanh dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Hoạt động huy động vốn đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của NHTM. Hoạt động huy động vốn là “hoạt động thường xuyên của NHTM.
Một NHTM bất kì nào cũng bắt đầu hoạt động của mình bằng việc huy động nguồn vốn. Đối tượng huy động của NHTM là nguồn tiền nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế, dân cư. Nguồn vốn quan trọng nhất, và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM là tiền gửi 11 của khách hàng. Các NHTM nhận tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức kinh tế xã hội, thậm chí cả nguồn tiền của các Ngân hàng khác.
Hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng có ý nghĩa với người gửi tiền, nền kinh tế, cũng như bản thân Ngân hàng. Thông qua nghiệp vụ này, ngân hàng tập hợp được các khoản tiền nhàn rỗi, phân tán, tạm thời chưa sử dụng với các thời hạn hết sức khác nhau, để hình thành nguồn tiền lớn, đảm bảo cung cấp cho nền kinh tế, cho các cá nhân có nhu cầu sử dụng. Ngân hàng sử dụng các khoản tiền gửi có thời hạn rất khác nhau để cho vay những món có thời hạn xác định, do đó Ngân hàng phải kiểm soát tốt thời hạn của các nguồn vốn của mình thì mới đảm bảo được hoạt động có hiệu quả, tránh được những rủi ro về khả năng thanh toán”. Việc tập hợp được những nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng để đưa vào kinh doanh đã góp phần tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế.
Ngoài ra, hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng cũng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ, đặc biệt trong nền kinh tế phát triển nếu dân chúng có thói quen gửi tiền vào Ngân hàng. Sử dụng vốn: Theo tác giả Nguyễn Thị Mùi (2008), khi đã huy động được vốn rồi, vấn đề đặt ra là các NHTM phải tìm cách để những khoản tiền này được đầu tư đúng nơi, đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn, đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng bằng những cách sau: “Thứ nhất, ngân hàng tài trợ vốn cho nền kinh tế dưới hình thức cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế. Thứ hai, ngân hàng đóng vai trò đầu tư trực tiếp, tham gia góp vốn kinh doanh hoặc cho thuê tài sản; gửi tiền tại các Ngân hàng khác, tại Ngân hàng Nhà nước, những tổ chức tín dụng khác; đầu tư trên thị trường chứng khoán, nắm giữ chứng khoán.
Những đối tượng tài trợ không chỉ có các tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động trong lĩnh vực thương mại mà còn có cả các cá nhân tiêu dùng, thậm chí Chính phủ cũng được Ngân hàng tài trợ dưới những hình thức: NHTM mua tín phiếu kho bạc, trái phiếu của chính phủ. Do hoạt động cho vay của Ngân hàng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro nên cần áp dụng các nguyên tắc hoạt động và quản lý tiền vay chặt chẽ. Kinh tế ngày càng phát triển, lượng cho vay của NHTM ngày càng tăng nhanh và loại 12 hình cho vay cũng trở nên vô cùng phong phú và đa dạng”. Tại hầu hết các nước công nghiêp trong nhóm những nước hàng đầu thế giới, cho vay của các NHTM đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn.
Ngược lại, ở các nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn. Hoạt động đầu tư của Ngân hàng thường có quy mô và tỷ trọng nhỏ hơn trong mục tài sản sinh lời của NHTM. So với hoạt động cho vay, hoạt động đầu tư đem lại thu nhập cao hơn nhưng rủi ro cao hơn do thu nhập từ hoạt động đầu tư không được xác định trước vì phải phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mà Ngân hàng đầu tư vào. Thứ ba, bên cạnh hoạt động cho vay và đầu tư, Ngân hàng “tham gia vào thị trường chứng khoán.
NHTM tham gia cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán hay đóng vai trò là nhà đầu tư, mua bán chứng khoán vì mục tiêu kiếm lời cho chính Ngân hàng, hoặc thực hiện kinh doanh chứng khoán thông qua uỷ thác của khách hàng”. Hoạt động dịch vụ Theo Nguyễn Thị Mùi (2008), ngoài các hoạt động cơ bản thì NHTM đóng vai trò thực hiện các dịch vụ trung gian tài chính cho khách hàng của mình. Khi đó, ngân hàng không đứng vai trò là con nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian để thoả mãn nhu cầu khách hàng về dịch vụ mà khách hàng cần. Các dịch vụ của Ngân hàng ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, các dịch vụ ngày càng đa dạng.
Hoạt động trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ khác nhau: “dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này từ tài khoản này đến tài khoản khác ở cùng một Ngân hàng, hoặc hai Ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính, dịch vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá dịch vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động. Đây là những khoản chi thường xuyên trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ tốn nhiều thời gian và phiền toái khi thanh toán các khoản này, cung cấp các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt”. 13 Các lĩnh vực hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay, trung gian tài chính là các hoạt động cơ bản của NHTM. Nó có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển, tạo uy tín cho Ngân hàng.
Huy động vốn được thì mới có nghiệp vụ cho vay, cho vay có hiệu quả phát triển kinh tế thì mới có nguồn vốn để huy động vào, đồng thời muốn cho vay và huy động vốn tốt thì Ngân hàng phải làm tốt vai trò trung gian, chính sự kết hợp đồng bộ đó tạo thành quy luật trong hoạt động của Ngân hàng và tạo thành xu hướng kinh doanh tổng hợp của các NHTM. Tổng quan về hoạt động huy động vốn của NHTM Khái niệm Theo Nguyễn Văn Lộc, Hà Minh Sơn (2014) thì nguồn vốn chủ yếu mà NHTM sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó vốn chủ sở hữu của ngân hàng lại chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Để có vốn thực hiện các hoạt động này, ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng. Đây là nghiệp vụ giải quyết yếu tố đầu vào cho ngân hàng.
Như vậy, huy động vốn là việc mà ngân hàng được phép sử dụng những công cụ mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội để thực hiện nghiệp vụ cho vay và các nghiệp vụ kinh doanh khác của ngân hàng, đồng thời có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho chủ sở hữu các nguồn tiền đó. Vai trò của hoạt động huy động vốn Cũng theo Nguyễn Văn Lộc, Hà Minh Sơn (2014) thì vai trò của hoạt động huy động vốn như: - Thứ nhất, tạo nguồn vốn chủ lực cho hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM, và chỉ đủ để trang bị cơ sở vật chất cho hoạt động ngân hàng. Còn nếu muốn cho vay, kinh doanh các dịch vụ ngân hàng để sinh lời thì ngân hàng phải huy động, sử dụng các nguồn tiền nhàn rỗi bên ngoài.
- Thứ hai, ảnh hưởng đến quy mô hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng. So với các ngân hàng có nguồn vốn huy động lớn thì các ngân hàng huy động nhỏ sẽ có phạm vi và khối lượng cho vay nhỏ hơn, khoản mục đầu tư và cho vay 14 kém đa dạng hơn. Trong khi các ngân hàng có nguồn vốn huy động lớn cho vay được ở thị trường trong nước, ngoài nước thì các ngân hàng có nguồn vốn huy động nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, mà chủ yếu trong cộng đồng. - Thứ ba, ảnh hưởng khả năng cạnh tranh của NHTM.
Ngân hàng có nguồn vốn huy động lớn sẽ chứng tỏ được ngân hàng có quy mô lớn, trình độ nghiệp vụ tốt và phương tiện kỹ thuật hiện đại. Đồng thời, nguồn vốn huy động lớn sẽ giúp ngân hàng tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm giữ chữ tín, vừa nâng cao vị thế của ngân hàng. - Thứ tư, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trường trong nền kinh tế. Để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín trên thị trường.