CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC 1. Cơ sở pháp lý - Hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách liên quan tới đội ngũ cán bộ công chức: + Luật Cán bộ, công chức; Luật Thi đua, khen thưởng. + Nghị định số 138/2020/NĐ-CP của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. + Nghị định số 48/2023/NĐ-CP của Chính phủ về việc phân loại đánh giá cán bộ, công chức, viên chức.
+ Nghị định 48/2023/NĐ-CP của Chính phủ về việc phân loại đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, Hà Nội. - Thành ủy Hải Phòng (2020), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XVI thành phố Hải Phòng. - Thành ủy Hải Phòng (2015), Nghị quyết số 18-NQ/TU về xây dựng và phát triển quận Hải An đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, Hải Phòng. - Báo cáo kết quả đánh giá công chức các năm 2019, 2020, 2021, 2022, 2023 của Uỷ ban nhân dân quận Hải An.
- Các Quyết định phân bổ chỉ tiêu công chức qua các năm 2019, 2020, 2021, 2022, 2023 của Uỷ ban nhân dân quận Hải An. - Báo cáo Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh các năm 2019, 2020, 2021, 2022, 2023 của Uỷ ban nhân dân quận Hải An. - Kế hoạch số 177/KH-UBND ngày 14/02/2020 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức quận Hải An năm 2020 - 2023. Cơ sở khoa học 1.
Tổng quan về đội ngũ công chức 1. Khái niệm công chức - Khái niệm công chức: Khái niệm công chức được quy định tại nhiều văn bản khác nhau theo tiến trình lịch sử và sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Cụ thể: Lần đầu tiên là tại Điều 1 của Sắc lệnh số 76-SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nêu rõ: Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định [4, Tr. Đến năm 1991, thuật ngữ công chức tiếp tục được quy định rõ ràng hơn tại Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về công chức Nhà nước và tại Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ, Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước.
Ngày 13/11/2008, Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2010, trong đó quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập 7 thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Quy định mới nhất về khái niệm công chức hiện nay là tại Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2020, cụ thể: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Như vậy, từ đặc thù của thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, đảng, đoàn thể của nước ta, khái niệm công chức bao gồm những người làm việc trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, trong các tổ chức chính trị, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội 1. Phân loại công chức Căn cứ Luật Cán bộ, công chức 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019, công chức được phân loại theo các tiêu chí sau: - Căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, công chức được phân loại theo ngạch công chức tương ứng sau đây: a) Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; b) Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; 8 c) Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; d) Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên; đ) Loại đối với ngạch công chức khác theo quy định của Chính phủ” [9, Tr2] - Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại: a) Công chức giữ chức vụ lãnh đạo quản lý; b) Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý” 1.
Chất lượng đội ngũ công chức 1. Khái niệm chất lượng đội ngũ công chức Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam do Nxb Từ điển Bách khoa xuất bản năm 2013 định nghĩa: "Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc" [18, tr. Chất lượng đội ngũ công chức bao gồm nhiều yếu tố, cụ thể như sau: - Năng lực quản lý, lãnh đạo: là khả năng điều hành, tổ chức việc thực hiện các hoạt động công vụ do các công chức giữ vị trí lãnh đạo thực hiện. - Phẩm chất đạo đức, lối sống: việc tuân thủ các quy định của pháp luật của cơ quan đơn vị công tác.
Giữ vững phẩm chất cách mạng, lối sống lành mạnh, trung thực; không ngừng nâng cao và phát huy tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ, chăm lo đời sống nhân dân. - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: trình độ đào tạo, năng lực hiểu biết công việc được giao và khả năng xử lý, hoàn thành nhiệm vụ, năng suất lao động và hiệu quả công việc chuyên môn, nâng cao chất lượng công việc. - Đối với đội ngũ công chức tại các địa phương như quận Hải An, ngoài các tiêu chí về chất lượng như đã phân tích ở trên, còn có chỉ tiêu quan trọng đó là sự tín nhiệm của nhân dân địa phương. Dân có tín nhiệm, có tin tưởng thì nhiệm vụ được giao của công chức mới có thể được hoàn thiện và hoàn thành tốt.
9 - Khả năng xử lý linh hoạt trong các tình huống cấp bách, phát sinh đột xuất, khả năng thích ứng trong mọi hoàn cảnh và môi trường công tác là một trong những chỉ tiêu đặc biệt để đánh giá chất lượng công chức. Do đó, khái niệm chất lượng đội ngũ công chức là một khái niệm tổng hợp, thể hiện mức độ hoàn thiện về đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, quản lý, hiệu quả công việc, khả năng xử lý tình huống và thích ứng trong những trường hợp đặc biệt của đội ngũ công chức. Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức Tại Điều 56 Luật số 22/2008/QH12 về Luật Cán bộ, công chức quy định như sau: “1. Công chức được đánh giá theo các nội dung sau đây: a) Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; b) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; c) Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; d) Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; đ) Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; e) Thái độ phục vụ nhân dân.
Ngoài những quy định tại khoản 1 Điều này, công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung sau đây: a) Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; b) Năng lực lãnh đạo, quản lý; c) Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức” [8, Tr.16] * Cụ thể các nội dung như sau: - Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc: Có niềm tin sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng, có ý thức trách nhiệm cao với công việc được giao, nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu chung của Đảng, của nhân 10 dân. Không vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức, lối sống. Chủ động, dám nghĩ, dám làm giữ vững tinh thần trách nhiệm cao trong nhiệm vụ chuyên môn được giao. Giữ đúng chuẩn mực tác phong, thái độ khi phục vụ nhân dân, các cá nhân, doanh nghiệp, tập thể…, giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.
Có tinh thần hợp tác, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp, tạo môi trường làm việc đoàn kết, thống nhất. Giữ gìn tài sản công, tiết kiệm chi tiêu, chống lãng phí. - Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Có kiến thức chuyên môn sâu rộng, vững vàng về lĩnh vực công tác được giao. Khả năng cập nhật kiến thức chuyên môn mới một cách nhanh chóng.
Có kỹ năng nghiệp vụ thành thạo, đáp ứng yêu cầu công việc. Kết hợp kinh nghiệm thực tiễn và kinh nghiệm giải quyết các vấn đề phức tạp, chia sẻ kinh nghiệm cho đồng nghiệp. Có tư duy sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đề xuất giải pháp mới cho các vấn đề công tác. Xây dựng và áp dụng các sáng kiến trong quá trình thực thi công vụ, giải quyết công việc chuyên môn.
Không ngừng học tập, tìm hiểu, trau dồi kiến thức mới. - Tiến độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ theo các mức độ, cụ thể: Hoàn thành đúng tiến độ công việc được giao với chất lượng đạt kết quả đúng theo yêu cầu.