CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC, NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. QUAN NIỆM VỀ NGUỒN NHÂN LỰC, CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Quan niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển, theo những góc độ khác nhau các nhà khoa học, nhà nghiên cứu có những khái niệm khác nhau, tác giả xin nêu một số định nghĩa như sau: - Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó. World Development Indicators.
- Theo Phạm Minh Hạc : Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (Phạm Minh Hạc , 1996. Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. NXB Chính trị Quốc gia, Tr 269) - Theo Nguyễn Hữu Dũng: Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội.
Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa 8 đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người.
Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn. (Nguyễn Hữu Dũng, 2003. Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam. NXB Lao động – Xã hội, tr 5).
Quan niệm về chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội. Các quan niệm tuy có khác nhau nhưng theo tiếp cận của nghiên cứu này cho thấy những điểm chung về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực là: - Về số lượng, nguồn nhân lực thể hiện số lượng lao động hiện tại và trong tương lai, việc xác định số lượng nguồn nhân lực dựa trên 2 nhóm yếu tố: yếu tố bên trong thể hiện nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi tăng/giảm thêm số lượng lao động; yếu tố bên ngoài thể hiện sự gia tăng nguồn nhân lực do tăng về dân số, do di cư… - Cơ cấu nhân lực, thể hiện qua cơ cấu về trình độ được đào tạo, giới tính, độ tuổi. Đối với cơ cấu nguồn nhân lực trong bộ máy nhà nước, đặc biệt là ở cấp xã thì trình độ đào tạo và tỷ lệ cán bộ, công chức được quan tâm xem xét trong công tác bố trí, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng để phù hợp thực tế. Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực Cũng như quan niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực cũng được các nhà nghiên cứu đề cập đến ở những góc độ khác nhau, tác giả xin trích giới thiệu một số quan niệm như sau: 9 - Theo Bùi Văn Nhơn: Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển.
Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội. NXB Tư pháp, tr 98) - Theo sách phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á của Viện Kinh tế thế giới xuất bản năm 2003: Phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập. Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Kiến thức có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế.
(Viện Kinh tế Thế giới, 2003. Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông á. NXB Khoa học xã hội, tr 16 - 17). - Theo Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử.
Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao. (Trường đại học Kinh tế Quốc dân, 2008. Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực.
NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Tr 104). 10 Mặc dù với những cách tiếp cạnh khác nhau , các tác giả đã có những quan điểm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực , nhưng bao hàm chung vẫn là : ở góc độ cá nhân PT NNL là nâng cao trí tuệ , phát huy tính toàn diện năng lực của cá nhân trong lao động , sản xuất và nâng cao mức sống của cá nhân , ở góc độ xã hội PTNNL là nâng cao về quy mô số lượng , chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý nhằm phục vụ mục tiêu phát triển xã hội. Trong nghiên cứu này, tập trung xoay quanh PTNNL qua bồi dưỡng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của công chức. NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Nhận thức về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực công chức cấp xã Với những cách tiếp cận nguồn nhân lực như đã đề cập ở phần 1.1, tác giả đưa ra nhận thức về chất lượng nguồn nhân lực công chức cấp xã thể hiện qua hiệu quả thực thi công vụ của công chức, do đó nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực của công chức được tác giả xem xét ở những nội dung sau: - Số lượng công chức xã, phường, thị trấn được bố trí tại UBND các xã, phường, thị trấn để đảm bảo các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương đều có người phụ trách. - Chất lượng của đội ngũ công chức được thể hiện ở những phía cạnh sau: về trình độ văn hóa phổ thông, chuyên môn được đào tạo; kỹ năng, nghiệp vụ được bồi dưỡng, độ tuổi, thâm niên công tác và đạo đức công vụ của công chức. Trong đó, yếu tố được đề cập trong nghiên cứu này là công tác bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công chức. - Cơ cấu công chức cấp xã được thể hiện: về tỷ lệ bố trí giữa cán bộ và công chức trong bộ máy nhà nước ở cấp xã và thể hiện về giới tính.
Một số quy định đối với công chức cấp xã Công chức cấp xã được điều chỉnh bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật riêng giành cho công chức cấp xã. Cụ thể như sau: 1. Định nghĩa về công chức cấp xã 11 Khoản 3, Điều 4 Luật cán bộ, công chức (2008) định nghĩa về công chức cấp xã quy định: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Về chức danh công chức cấp xã Điều 61, Chương V của Luật cán bộ, công chức quy định công chức cấp xã có 7 chức danh, gồm: Trưởng Công an xã; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.Về số lượng công chức cấp xã Theo quy định của Chính phủ (Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ ) số lượng công chức được quy định gắn chung với số lượng cán bộ cấp xã , cụ thể: quy định bố trí theo phân loại đơn vị hành chính cấp xã: xã loại 1 được bố trí không quá 25 người; xã loại 2 được bố trí không quá 23 người; xã loại 3 được bố trí không quá 21 người.