phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 4 chương, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đội ngũ cán bộ, công chức ngành Thanh tra Lào Cai. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Thanh tra tỉnh Lào Cai. Chƣơng 4: Giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Thanh tra Lào Cai.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA 1. Cơ sở lý luận về chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Thanh tra 1. Khái quát về ngành Thanh tra, cán bộ, công chức ngành Thanh tra 1. Khái quát về ngành Thanh tra a.
Khái niệm thanh tra Từ khi ra đời đến nay Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng cán bộ và công tác cán bộ, coi đây là một lực lượng ưu tú quyết định sự thành công hay thất bại, trong sự nghiệp bảo vệ sự nghiệp cách mạng và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trên cơ sở đó Đảng luôn củng cố xây dựng hệ thống quản lý các cấp, đội ngũ cán bộ, trong các cơ quan hành chính Nhà nước. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ quản lý của từng ngành, lĩnh vực, địa giới hành chính, lãnh thổ, dân tộc, đặc điểm kinh tế vùng miền, địa lý, dân cư và các đặc điểm của tổ chức, pháp lý, kỹ thuật, được cụ thể hoá bằng Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 28 tháng 4 năm 2000; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 và Luật cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008. Theo Từ điển tiếng Việt “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”.
Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra”, “Đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”. Theo kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học “Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước” do TS. Trần Đức Lượng làm chủ nhiệm thì khái niệm thanh tra được xác định: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu điểm, 6 khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Theo Từ điển Luật học thì “thanh tra” là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thông qua được giao nhằm đạt được mục đích nhất định”. Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm thanh tra được định nghĩa trong Luật Thanh tra năm 2004 dưới khái niệm thanh tra nhà nước. Theo đó, thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Luật Thanh tra năm 2010 thay thế cho Luật Thanh tra năm 2004 cũng đưa ra định nghĩa tương tự: Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra là sự kiểm tra có tính chất nhà nước của cơ quan quản lý cấp trên đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân cấp dưới do tổ chức thanh tra thực hiện. Có trách nhiệm thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Ngành thanh tra là hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra.
Đặc điểm của thanh tra - Có mối quan hệ với cơ quan quản lý nhà nước Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thì quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (đề ra đường lối, chủ trương, quy định thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, sử dụng các kết quả, các thông tin từ phía các cơ quan thanh tra). 7 - Mang tính quyền lực nhà nước Thanh tra là một hoạt động luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước. Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là cơ quan nhà nước. Thanh tra (với tư cách là một danh từ chỉ cơ quan có chức năng này) luôn luôn áp dụng quyền năng của Nhà nước trong quá trình tiến hành hoạt động của mình và nó nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó.
- Có tính độc lập tương đối Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Tính độc lập tương đối trong quá trình thanh tra được thể hiện trên các điểm sau: tuân theo pháp luật; tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định; ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh tra; chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình. Hệ thống cơ quan thanh tra Hệ thống cơ quan thanh tra bao gồm thanh tra hành chính và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. - Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; Thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lí của nhiều bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra sau thanh tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi cần thiết; Thanh tra vụ việc khác do Thủ tướng giao. - Thanh tra Bộ và cơ quan ngang Bộ có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, 8 tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của bộ; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Bộ trưởng quyết định thành lập; Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách; Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc bộ… - Thanh tra tỉnh có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của sở, của Ủy ban nhân dân cấp huyện; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập; Thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm của nhiều sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện; Thanh tra vụ việc khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao. - Thanh tra Sở có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Xây dựng kế hoạch thanh tra trình giám đốc sở phê duyệt; Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của sở. - Thanh tra Huyện có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Thanh tra vụ việc phức tạp, có liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Thanh tra vụ việc khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao.
Khái quát về đội ngũ cán bộ, công chức ngành Thanh tra a. Khái niệm đội ngũ cán bộ, công chức ngành Thanh tra * Khái niệm về đội ngũ Khái niệm đội ngũ tuy có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng đều có chung một điểm đó là: một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng, để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể có cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định. 9 Tóm lại: đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, có cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần. * Khái niệm cán bộ, công chức ngành Thanh tra Từ khái niệm về công chức, có thể hiểu công chức ngành thanh tra là công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ngành thanh tra, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, thực hiện nhiệm vụ thanh tra.