CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 1. Cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân huyện 1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp huyện 1. Khái niệm cán bộ Thuật ngữ cán bộ thường được dùng khá phổ biến trong xã hội.
Trong khoa học hành chính và đời sống xã hội, tùy theo các cách tiếp cận khác nhau có những quan niệm khác nhau về các thuật ngữ CBCC. Trên thế giới, thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng tại các nước XHCN có nội hàm khá rộng, gồm những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì đến nay chưa có văn bản nào quy định chính thức. Ở Việt Nam, theo cách hiểu thông thường trước đây, cán bộ là những người tham gia cách mạng, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội, công an và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Tại điều 4, khoản 1 và khoản 3, văn bản hợp nhất Số 5/VBHN- VPQH Luật cán bộ, công chức ban hành ngày 16 tháng 12 năm 2019 quy định: “ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 23 Vậy cán bộ theo nghĩa cơ bản nhất, đó là những người lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng, tổ chức điều hành công việc, là hạt nhân của một tổ chức, là nòng cốt của một phong trào. Cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta, là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng. Căn cứ xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.
Hoạt động của cán bộ luôn gắn với quyền lực chính trị được nhân dân, các thành viên trong tổ chức trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ trong cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội do cơ quan có thẩm quyền của Đảng quy định. Cán bộ trong cơ quan nhà nước do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ quy định thông qua các văn bản luật và dưới luật. Khái niệm công chức Khái niệm công chức trên thế giới xuất hiện cùng với sự ra đời của chế độ công chức ở các nước tư bản phương Tây từ nửa cuối thế kỷ XIX, đánh dấu bước phát triển quan trọng của lịch sử các tổ chức nhà nước.
Tuy vậy, mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về công chức. Ở Cộng hoà Pháp: Công chức được hiểu là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước 24 tổ chức, bao gồm cả Trung ương và địa phương, nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý. Ở Vương quốc Anh, khái niệm công chức bao hàm những nhân viên làm việc trong ngành hành chính, ví dụ như nội chính và ngoại giao. Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ được gọi chung là công chức.
Các nghị sĩ Quốc hội (thượng nghĩ sĩ, hạ nghị sĩ) và những người làm việc trong Quốc hội đều không phải là công chức. Như vậy, không có một khái niệm thống nhất về công chức, nhưng có điểm chung, công chức là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh, thừa hành một công vụ trong cơ quan nhà nước, được xếp vào một ngạch, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Ở Việt Nam, khái niệm công chức xuất hiện lần đầu tiên khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL, ngày 20-5-1950 về Quy chế công chức. Điều 1 của Sắc lệnh này quy định: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
Công chức theo Quy chế này giới hạn trong phạm vi rất hẹp, chỉ có trong các cơ quan của Chính phủ. Tuy nhiên, do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác, Quy chế này không được phổ biến, khái niệm công chức rất ít sử dụng mà thay vào đó là thuật 25 ngữ “cán bộ, công nhân, viên chức”, không có sự phân biệt cụ thể ai là cán bộ, công chức, công nhân, viên chức. Trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Tại văn bản Số 5/VBHN-VPQH Luật cán bộ, công chức ban hành ngày 16 tháng 12 năm 2019 thì tại khoản 2, điều 4, quy định về công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị.
Đây là điểm đặc thù của Việt Nam rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Khái niệm công chức tuy chưa thống nhất song vẫn đã có những cách tiếp cận chung đó là những người làm trong cơ quan quản lý nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; tuy nhiên, chưa có một khái niệm riêng về công chức cấp huyện. Từ cách tiếp cận khái niệm công chức ghi tại Luật Công chức Việt Nam có thể hiểu: “Công 26 chức cấp huyện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp huyện; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Như vậy, công chức cấp huyện là công chức: - Là công dân Việt Nam; - Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh; - Hoạt động trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp huyện; - Trong biên chế ; - Và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Như vậy, có thể thấy công chức được hiểu theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối tượng là công chức có phạm vi khá rộng, không chỉ trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước mà bao gồm cả những người làm trong các cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị-xã hội. Đặc điểm cơ bản của cán bộ , công chức cấp huyện Cấp huyện là cấp hành chính trung gian giữa cấp tỉnh và cấp cơ sở; do vậy, CBCC của huyện trước hết cũng phải hội tụ đủ những điều kiện là CBCC nói chung, nhưng làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước ở huyện. Do tính chất đặc thù của công việc, CBCC của huyện có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, CBCC của huyện là những người làm việc trong cơ quan HCNN cấp trung gian giữa cấp tỉnh và xã; CBCC cấp huyện phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước: Luật Cán bộ, công 27 chức; Bộ luật Lao động; Bộ luật Dân sự,. Trong đó, CBCC của huyện không những là người chấp hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà còn là người thực thi và bảo vệ pháp luật.
Họ là những người thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Luật cán bộ, công chức và hệ thống luật pháp có liên quan, như Luật Hành chính, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… CBCC của huyện là người thực hiện quyền lực của nhà nước, giám sát, kiểm tra đối với các lĩnh vực hoạt động trên địa bàn huyện, từ phát triển kinh tế, văn hóa, y tế, xã hội, xây dựng chính quyền địa phương, phát triển dịch vụ công đáp ứng tốt nhu cầu của người dân trên địa bàn huyện. Do đó, việc thực thi công vụ của CBCC của huyện có tính pháp lý cao và phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật. Thứ hai, địa bàn hoạt động của CBCC của huyện không rộng so với cấp tỉnh nhưng thường rất phức tạp, đòi hỏi sự sâu sát của CBCC của huyện. Trên địa bàn một huyện thường có rất nhiều tổ chức, ngành nghề cùng hoạt động, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cũng rất đa dạng.
Thành phần dân cư sinh sống tại các huyện hiện nay thường cũng rất phức tạp, người tạm trú khá đông. Đây là điều kiện dễ làm phát sinh các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn trên địa bàn. Thứ ba, CBCC của huyện có mối quan hệ công tác phức tạp với các cơ quan nhà nước cấp trên, với các lãnh đạo huyện, các phòng ban thuộc huyện. Trên địa bàn hoạt động của huyện, CBCC còn phải có quan hệ hệ nghiệp vụ với cơ quan nhà nước khác, như thuế, quản lý 28 thị trường và người dân buôn bán nhỏ.
Như vậy, khi thực thi công vụ CBCC của huyện phải đồng thời giải quyết nhiều mối quan hệ khác nhau. Ở đây đòi hỏi sự khéo léo và các kỹ năng của CBCC. Thứ tư, về trình độ, năng lực và kỹ năng làm việc của CBCC của huyện. CBCC của huyện là những người trực tiếp đưa đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước vào trong cuộc sống.