Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 2013-2018

Phân tích giải pháp nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ công chức Bà Rịa Vũng Tàu, góp phần phát triển bền vững địa phương.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

121
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chiến lược nâng cao chất lượng cán bộ BRVT 2013 18

Giai đoạn 2013-2018 đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Nhận thức rõ vai trò quyết định của nguồn lực con người, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Một đội ngũ công chức có đủ phẩm chất đạo đức công vụnăng lực công tác không chỉ quyết định hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Luận văn của tác giả Nguyễn Bá Hùng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, khẳng định rằng sự thành công của hệ thống hành chính phụ thuộc trực tiếp vào năng lực và phẩm chất của những người thực thi công vụ. Giai đoạn này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao và khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trường. Thách thức lớn nhất là sự bất cập về chất lượng của một bộ phận cán bộ so với yêu cầu nhiệm vụ mới. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực một cách đồng bộ, từ khâu quy hoạch, tuyển dụng đến đào tạo và đãi ngộ, trở thành một đòi hỏi khách quan, mang tính chiến lược của UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và các cơ quan chuyên môn như Sở Nội vụ Bà Rịa Vũng Tàu.

1.1. Vai trò của chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển tỉnh

Nguồn lực con người luôn là yếu tố then chốt quyết định sự phát triển của một quốc gia hay địa phương. Đối với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, một địa phương có tiềm năng kinh tế lớn, chất lượng nguồn nhân lực công, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức, giữ vai trò xương sống. Họ là lực lượng trực tiếp tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước. Một đội ngũ mạnh sẽ thúc đẩy cải cách hành chính nhà nước, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, và đảm bảo các mục tiêu kinh tế - xã hội được hoàn thành. Ngược lại, những hạn chế về năng lực sẽ trở thành rào cản cho sự phát triển. Do đó, đầu tư vào con người chính là đầu tư cho tương lai bền vững của tỉnh.

1.2. Yêu cầu của CNH HĐH đối với đội ngũ công chức hành chính

Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH) và hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ công chức. Công chức không chỉ cần nắm vững nghiệp vụ chuyên môn mà còn phải có trình độ lý luận chính trị, kiến thức về quản lý kinh tế thị trường, pháp luật quốc tế, và kỹ năng ngoại ngữ, tin học. Họ phải có tư duy chiến lược, khả năng dự báo và xử lý các vấn đề phức tạp nảy sinh. Theo đó, yêu cầu về năng lực công tác không chỉ dừng lại ở việc thực thi mệnh lệnh mà còn đòi hỏi sự chủ động, sáng tạo và tinh thần phục vụ nhân dân. Việc tuân thủ Luật Cán bộ, công chức và các quy định về đạo đức công vụ là nền tảng để xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.

II. Phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ công chức BRVT 2013 18

Để đề ra các giải pháp phù hợp, việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ là bước đi tiên quyết. Nghiên cứu của Sở Nội vụ Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2012 cho thấy những mặt mạnh và tồn tại song song trong chất lượng đội ngũ công chức của tỉnh. Về mặt tích cực, đội ngũ cán bộ công chức đa số có lập trường chính trị vững vàng, có ý thức tổ chức kỷ luật. Trình độ học vấn và chuyên môn từng bước được nâng lên, đáp ứng cơ bản các nhiệm vụ thường xuyên. Tuy nhiên, những bất cập vẫn còn tồn tại và trở thành thách thức lớn. Chất lượng không đồng đều, một bộ phận công chức còn hạn chế về năng lực công tác, đặc biệt là kỹ năng quản lý trong nền kinh tế thị trường và khả năng ngoại ngữ. Cơ cấu đội ngũ theo độ tuổi, ngạch bậc chưa thực sự hợp lý, tiềm ẩn nguy cơ hẫng hụt thế hệ kế cận. Công tác đánh giá công chức viên chức đôi khi còn mang tính hình thức, chưa gắn liền với kết quả công việc cụ thể, làm giảm động lực phấn đấu. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ thể chế quản lý, chính sách cán bộ đến ý thức tự rèn luyện của mỗi cá nhân. Việc nhận diện rõ những yếu kém này là cơ sở quan trọng để xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực một cách toàn diện và hiệu quả, hướng đến mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

2.1. Đánh giá trình độ chuyên môn và nghiệp vụ chuyên môn

Theo số liệu điều tra năm 2012 của Sở Nội vụ Bà Rịa - Vũng Tàu, tỷ lệ công chức có trình độ đại học và trên đại học ngày càng tăng. Đây là một tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng chuyên môn đào tạo không hoàn toàn phù hợp với vị trí công việc đảm nhận. Một số công chức tuy có bằng cấp nhưng kỹ năng thực hành và nghiệp vụ chuyên môn còn yếu, chưa theo kịp yêu cầu của cải cách hành chính nhà nước. Đặc biệt, kỹ năng về tin học và ngoại ngữ, vốn là công cụ thiết yếu trong thời kỳ hội nhập, vẫn là điểm yếu của không ít cán bộ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và khả năng tiếp cận, xử lý thông tin.

2.2. Những bất cập trong cơ cấu độ tuổi và ngạch công chức

Phân tích cơ cấu đội ngũ cho thấy sự mất cân đối. Theo Bảng 2.4 và 2.5 trong luận văn gốc, cơ cấu độ tuổi chưa đảm bảo tính kế thừa liên tục giữa các thế hệ. Lực lượng cán bộ có kinh nghiệm dần đến tuổi nghỉ hưu trong khi lớp cán bộ trẻ chưa đủ thời gian tích lũy kinh nghiệm quản lý. Về cơ cấu ngạch, tỷ lệ chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp còn thấp. Sự mất cân đối này gây khó khăn cho công tác quy hoạch cán bộ và bố trí nhân sự, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển đồng bộ của chất lượng nguồn nhân lực toàn tỉnh.

2.3. Nguyên nhân của những hạn chế về năng lực công tác

Nguyên nhân của những bất cập rất đa dạng. Về mặt khách quan, thể chế quản lý và chính sách cán bộ còn một số điểm chưa theo kịp thực tiễn. Công tác quy hoạch cán bộ và đào tạo đôi khi chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của từng vị trí. Về mặt chủ quan, một bộ phận công chức còn thiếu tinh thần tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ. Công tác đánh giá công chức viên chức chưa thực sự tạo ra áp lực và động lực đủ mạnh để thúc đẩy sự tiến bộ. Bên cạnh đó, việc chưa xây dựng hoàn chỉnh đề án vị trí việc làm cũng gây khó khăn trong việc xác định tiêu chuẩn và yêu cầu cụ thể cho từng chức danh.

III. 5 Giải pháp cốt lõi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực BRVT

Từ việc phân tích thực trạng, luận văn đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Các giải pháp này tập trung vào việc đổi mới căn bản công tác quản lý nhân sự, coi đây là khâu đột phá để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế và các quy trình liên quan đến cán bộ, từ quy hoạch, đào tạo đến sử dụng và đãi ngộ. Mục tiêu là xây dựng một đội ngũ vừa "hồng" vừa "chuyên", có đủ năng lực để gánh vác nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Một trong những giải pháp nền tảng là xây dựng chức danh, tiêu chuẩn công việc rõ ràng theo đề án vị trí việc làm. Điều này tạo cơ sở khoa học cho việc tuyển dụng, đánh giá và bố trí cán bộ. Song song đó, công tác quy hoạch cán bộ phải được thực hiện một cách bài bản, thường xuyên, đảm bảo tính kế thừa và phát triển. Đổi mới đào tạo bồi dưỡng cán bộ cũng là một nhiệm vụ cấp bách, cần chuyển từ đào tạo theo văn bằng sang đào tạo theo nhu cầu công việc, trang bị những kỹ năng thực tiễn mà công chức còn thiếu. Các giải pháp này cần được triển khai đồng bộ dưới sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3.1. Hoàn thiện công tác quy hoạch cán bộ và xây dựng chức danh

Công tác quy hoạch cán bộ phải được xem là nhiệm vụ thường xuyên, đi trước một bước. Quy hoạch cần dựa trên đánh giá năng lực thực tế và chiều hướng phát triển của từng cá nhân, đảm bảo nguồn cán bộ kế cận cho các chức danh lãnh đạo, quản lý. Đồng thời, việc xây dựng chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ cho từng vị trí công việc là yêu cầu bắt buộc. Đây là cơ sở để xác định rõ yêu cầu về năng lực công tác, phẩm chất đạo đức công vụ, từ đó làm căn cứ cho mọi khâu trong quản lý nhân sự, khắc phục tình trạng bố trí công việc không đúng chuyên môn.

3.2. Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ theo nhu cầu

Hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ cần được đổi mới mạnh mẽ. Nội dung đào tạo phải tránh trùng lặp, nhàm chán, thay vào đó cần tập trung vào cập nhật kiến thức mới, kỹ năng quản lý hiện đại, và kỹ năng mềm cần thiết. Hình thức đào tạo cần đa dạng, kết hợp giữa học tập trung và tự học, gắn lý luận với thực tiễn. Quan trọng nhất, chương trình đào tạo phải xuất phát từ kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu thực tế của từng cơ quan, đơn vị và từng cá nhân công chức. Việc này đảm bảo kiến thức được trang bị sẽ áp dụng hiệu quả vào công việc, góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trịnghiệp vụ chuyên môn.

IV. Cách cải cách tuyển dụng và đánh giá công chức hiệu quả nhất

Tuyển dụng và đánh giá là hai khâu then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đầu vào và quá trình phấn đấu của đội ngũ công chức. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, việc cải cách hai công tác này là một đòi hỏi khách quan. Quá trình tuyển dụng cần được đổi mới cả về nội dung và hình thức để đảm bảo tính công khai, minh bạch, và lựa chọn được những người thực sự có tài năng. Việc gắn tuyển dụng công chức với thi tuyển các chức danh lãnh đạo là một bước đi đột phá, tạo cơ hội cho những người có năng lực đóng góp cho xã hội. Bên cạnh đó, đánh giá công chức viên chức phải thoát khỏi sự nể nang, hình thức. Cần xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá khoa học, định lượng, dựa trên kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao theo đề án vị trí việc làm. Kết quả đánh giá phải được sử dụng làm căn cứ chính cho việc quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng và kỷ luật. Việc thực hiện nghiêm túc Luật Cán bộ, công chức trong cả hai khâu này sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy mỗi cán bộ không ngừng nỗ lực nâng cao năng lực công tácphẩm chất đạo đức công vụ.

4.1. Cải tiến quy trình tuyển dụng và thi tuyển chức danh lãnh đạo

Quy trình tuyển dụng cần đảm bảo tính khách quan và công bằng. Nội dung thi tuyển cần tập trung vào kiểm tra năng lực tư duy, kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn, bên cạnh kiến thức chuyên môn. Đặc biệt, việc thí điểm và nhân rộng mô hình thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý sẽ tạo ra một cú hích cho cải cách hành chính nhà nước. Điều này không chỉ giúp chọn đúng người tài cho các vị trí quan trọng mà còn phá vỡ tư duy bổ nhiệm theo thâm niên, khuyến khích những cán bộ trẻ, có năng lực mạnh dạn phấn đấu.

4.2. Xây dựng phương pháp đánh giá công chức viên chức khách quan

Phương pháp đánh giá công chức viên chức cần được đổi mới theo hướng định lượng và gắn với hiệu quả công việc. Thay vì đánh giá chung chung cuối năm, cần có cơ chế giám sát, kiểm tra thường xuyên. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý và đánh giá hiệu suất công việc là cần thiết. Kết quả đánh giá phải được công khai và sử dụng một cách thực chất để bố trí, sắp xếp lại nhân sự, thực hiện tinh giản biên chế đối với những cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng những nhân tài cho tổ chức.

V. Bài học từ chính sách đãi ngộ và luân chuyển cán bộ công chức

Bên cạnh các giải pháp về quy hoạch, tuyển dụng và đào tạo, việc xây dựng một môi trường làm việc thuận lợi và có chính sách cán bộ hợp lý là yếu tố quyết định để giữ chân và phát huy tài năng. Một trong những động lực quan trọng nhất để công chức cống hiến là chế độ đãi ngộ. Việc thực hiện chính sách đãi ngộ thỏa đáng, công bằng, gắn liền với kết quả công việc sẽ tạo ra động lực phấn đấu mạnh mẽ. Cần nghiên cứu cải cách chế độ tiền lương và các phúc lợi khác để đảm bảo đời sống cho cán bộ, giúp họ yên tâm công tác và phòng chống tham nhũng. Song song với đó, công tác quy hoạch cán bộ phải đi liền với luân chuyển. Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý là một hình thức đào tạo thực tiễn hiệu quả nhất. Qua đó, cán bộ được rèn luyện trong nhiều môi trường khác nhau, tích lũy kinh nghiệm toàn diện, và có cái nhìn bao quát hơn. Việc tạo ra một môi trường làm việc dân chủ, cởi mở, nơi mọi cá nhân được tôn trọng và có cơ hội phát huy hết năng lực của mình là mục tiêu cuối cùng. Những kinh nghiệm từ các nước tiên tiến như Singapore cho thấy, đầu tư vào con người và tạo môi trường làm việc tốt chính là chìa khóa để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức.

5.1. Tác động của chính sách cán bộ và chế độ đãi ngộ thỏa đáng

Một chính sách cán bộ tốt phải bao gồm một chế độ đãi ngộ tương xứng. Tiền lương và các chế độ đãi ngộ khác không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn là sự ghi nhận của tổ chức đối với sự cống hiến của công chức. Khi được đãi ngộ công bằng và thỏa đáng, công chức sẽ có động lực để nâng cao năng lực công tác, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao hơn. Điều này cũng góp phần xây dựng một môi trường làm việc liêm chính, trong sạch, giảm thiểu các hành vi tiêu cực.

5.2. Hiệu quả từ công tác luân chuyển và xây dựng môi trường làm việc

Luân chuyển cán bộ là một giải pháp chiến lược trong công tác quy hoạch cán bộ. Nó giúp cán bộ trong diện quy hoạch được thử thách và trưởng thành qua thực tiễn, tránh tình trạng cục bộ, trì trệ. Đồng thời, việc xây dựng văn hóa công sở lành mạnh, khuyến khích sự hợp tác, chia sẻ và đổi mới sáng tạo sẽ phát huy được sức mạnh tập thể. Một môi trường làm việc tốt sẽ là mảnh đất màu mỡ để ươm mầm và phát triển chất lượng nguồn nhân lực cho tương lai.

04/10/2025
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh bà rịa vũng tàu giai đoạn 2013 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH 1.1- Công chức hành chính nhà nước và vai trò của đội ngũ công chức HCNN ở địa phương 1.1 Công chức HCNN Công chức HCNN: Cùng với sự phát triển kinh tế, chính trị và văn hóa của các nước tư bản chủ nghĩa, nhất là sau cuộc cách mạng công nghiệp, vào nửa cuổi thế kỷ XVIII, ở các nước phương Tây xuất hiện khái niệm công chức. Khái niệm này dùng để chỉ những người thừa hành quyền lực nhà nước để quản lý xã hội. Tuy nhiên, khái niệm công chức ở những Quốc gia khác nhau thì có những quan niệm khác nhau. Riêng đối với Việt Nam, khái niệm công chức ra đời năm 1950 và cũng được thay đổi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau: Ngày 20 tháng 5 năm 1950, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, trong đó công chức được định nghĩa là: “Những công dân Việt Nam, được chí nh quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ định” [ Trích Điều 1, Quy chế công chức ban hành kèm theo Sắc lệnh 76/SL].

Đây là khái niệm đầu tiên về công chức của nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên do chiến tranh kéo dài nên những quy định trong Sắc lệnh này không được thực hiện một cách đầy đủ nhưng những quy định này cũng tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển côn g chức của chúng ta cho đến nay. Trước đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nước, ngày 25/5/1991, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 169/HĐBT quy định đối tượng được gọi là công chức bao gồm: - Những người làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, ở tỉnh, huyện và cấp tương đương. 8 - Những người làm việc trong các Đại sứ quán, lãnh sự quán của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

- Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách. - Những nhân viên dân sự làn việc trong các cơ quan Bộ Quốc phòng. - Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ máy của các c ơ quan Tòa án, Viện kiểm sát các cấp. - Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ mộ công vụ thường xuyên trong bộ máy của văn phòng Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp.

Những trường hợp riêng biệt khác do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng q uy định. Những người không thuộc phạm vi công chức: - Các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp - Những người giữ các chức vụ trong hệ thống lập pháp, hành pháp, tư pháp được Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân bầu ra theo nhiệm kỳ. - Những hạ sĩ quan, sĩ quan tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, bộ đội biên phòng. - Những người làm việc theo chế độ tạm tuyển, hợp đồng và những người đang thời kỳ tập sự chưa được xếp vàp ngạch.

- Những người làm việc trong các tổ chức sản xuất kinh doanh c ủa nhà nước. - Những người làm việc trong các cơ quan Đảng và Đoàn thể nhân dân (có quy chế riêng của Đảng và Đoàn thể nhân dân) (Trích Điều 2, Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991) Quy định này đã có sự phân biệt công chức nhà nước với những người làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan Đảng và Đoàn thể nhân dân. Để cụ thể hóa tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị Quốc hội khóa 12 thông qua Luật Cán bộ công chức, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010. Đây là sự thể chế hóa đường lối, chính sách cán bộ của Đảng ta trong tình hình mới, là cơ sở pháp lý cho 9 việc quản lý, sử dụng và xây dựng đội ngũ công chức nhà nước ta.

Luật cán bộ, công chức đưa ra khái niệm: Cán bộ, công chức. Cán bộ, công chức là Công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ n gân sách nhà nước, bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhận chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; - Thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; Tuy nhiên, trong cán bộ công chức có một lực lượng khá đông đảo và quan trọng mà hoạt động của nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nền công vụ và chất lượng dịch vụ công của quốc gia, đó là công chức. Vậy công chức là những người nào? Luật cán bộ, công chức quy định: Cô ng chức bao gồm những người đã được quy định tại Điều 4, Cụ thể là: - Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thành phố , thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 10 - Công chức là công dân Việt Nam, được tu yển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghi ệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

- Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức hành chính nhà nước Công chức HCNN được hiểu là công chức (the o quy định tại Nghị định 117/2003/NĐ-CP) làm việc trong các cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cấp huyện. Công chức hành chính nhà nước ở địa phương là công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh (thành phố) và cấp huyện thuộc tỉnh (thành phố). Riêng công chức cấp xã được gọi là công chức cơ sở và có những quy định riêng, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 117/2003/Đ-CP.

Vì sao phải đưa ra khái niệm này? Theo tác giả, đội ngũ công chức hành chính tuy có số lượng không lớn so với công chức nói chung nhưng nó có chức năng quản lý vận hành hệ thống hành chính nhà nước, xương sống của nhà nước. Nền kinh tế - xã hội của quốc gia phát triển nhanh hay chậm, phát huy được nội lực, khai thác 11 được ngoại lực của quốc gia hay không phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của đội ngũ này. Do đó, cần thiết phải đưa ra khái niệm này và có nghiên cứu, phân tích riêng đối với đối tượng này. Do đặc điểm của cơ quan hành chính có những khác biệt với những cơ quan, tổ chức khá c nên công chức hành chính cũng đòi hỏi có những phẩm chất, đặc điểm riêng có của nó.

Đội ngũ công chức HCNN Đội ngũ công chức hành chính nhà nước ở địa phương là toàn bộ công chức HCNN ở địa phương được hiểu là một hệ thống thống nhất, có cơ cấu tổ chức r õ ràng, được vận hành, hoạt động theo một cơ chế ổn định, liên tục. Như vậy, đội ngũ công chức hành chính có đặc điểm sau: - Bao gồm toàn bộ công chức hành chính nhà nước ở địa phương. Mỗi công chức là thành viên của đội ngũ, do vậy, trình độ chuyên môn, k ỹ năng làm việc của mỗi công chức có ảnh hưởng tốt (hoặc xấu) đến chất lượng chung của cả đội ngũ; công chức giữ vị trí càng quan trọng thì mức độ ảnh hưởng càng nhiều. - Là một hệ thống thống nhất, cơ cấu bên trong được tổ chức rõ ràng.

Mỗi thành viên, mố i tổ chức trong đội ngũ có mối quan hệ, tác động với các thành viên và tổ chức khác trong hệ thống thông qua cơ chế hoạt động của hệ thống. - Đội ngũ công chức được vận hành, hoạt động liên tục, ổn định, được gọi là một bộ máy hành chính nhà nước; nó bao gồm rất nhiều lứa tuổi, ngành nghề, giới tính, dân tộc, …Cơ cấu về các tiêu chí trên hợp lý hay không cũng có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của đội ngũ.2 Vai trò của đội ngũ công chức HCNN ở địa phương Trong số 7.347 biên chế hành chính, sự nghiệ p của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2012 thì đội ngũ công chức hành chính chỉ có 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ