Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng cán bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thủ đô Viêng Chăn, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn 2005-2015 10 Luan van Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở thủ đô Viêng Chăn,Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ VÀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN 1. Một số vấn đề lý luận về cán bộ và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 1. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Cấp huyện trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Theo Luật hành chính địa phương nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (năm 2010) phân chia cấp hành chính địa phương thành 3 cấp: cấp tỉnh; cấp huyện; cấp bản (làng).
Vì vậy, cấp huyện là cấp thứ hai của cấp hành chính địa phương ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, có vai trò làm cầu nối giữa cấp tỉnh với cấp cơ sở trong cấp hành chính địa phương; nói cách khác, cấp huyện là một cấp của chính quyền địa phương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo luật định nhằm phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn cấp huyện. Cấp huyện có chức năng: Quản lý hành chính theo ranh giới, lãnh thổ về các hoạt động của Đảng, Nhà nước, của các ngành chức năng trực thuộc và các làng theo nhiệm vụ được Chính phủ phân cấp. Cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chủ trương và nhiệm vụ chính trị của Tỉnh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở địa phương; lãnh đạo, chỉ đạo các ngành cấp cơ sở, các đoàn thể và toàn dân thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, 11 Luan van quốc phòng – an ninh trên địa bàn, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Cấp huyện quản lý trực tiếp và toàn diện các bản trên địa bàn và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt của cấp tỉnh.
Cấp huyện có nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, kế hoạch ngân sách tài chính hàng năm trình Ban lãnh đạo huyện thông qua trước khi trình Ban lãnh đạo tỉnh phê duyệt. Tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch ngân sách nhà nước và công tác quốc phòng an ninh của huyện; chống và phòng chống các hiện tượng tiêu cực, theo dõi, kiểm tra các dự án đầu tư của Trung ương và tỉnh tại huyện mình. Bảo đảm việc thực hiện: Hiến pháp, pháp luật và các quy định của Nhà nước. Tạo sự thuận lợi và quản lý các cơ quan để đảm bảo việc tạo nguồn thu tại huyện của mình cho đúng, đủ và kịp thời.
Thúc đẩy, khuyến khích và tạo điều kiện cho Mặt trận Lào xây dựng tổ quốc, các cơ quan tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội, mọi thành phần kinh tế và nhân dân các dân tộc tham gia việc phát triển kinh tế - xã hội tại huyện mình. Tổ chức thực hiện công tác quản lý dân số tại huyện mình. Đề nghị thành lập, giải thể bản và bộ máy của cơ quan hành chính huyện. Báo cáo tình hình toàn diện của huyện cho tỉnh trưởng một cách thường xuyên.
Quan hệ, hợp tác với nước ngoài theo giao phó của tỉnh. Hướng dẫn, chỉ đạo việc thi hành các chủ trương, chính sách, thi hành pháp luật, ban hành các quyết định; chỉ thị, nghị quyết và tổ chức thực hiện. Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật ở cơ sở.Tổ chức chỉ đạo công tác thi hành án, công tác kiểm tra, thanh tra Nhà nước. Tổ chức tiếp dân, giải quyết kịp thời những tố cáo, 12 Luan van kiếu nại của công dân; quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Xây dựng chính quyền vững mạnh, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các tổ chức kinh tế; quản lý hành chính. Tổ chức việc bầu cử Quốc hội theoquy định của pháp luật. Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương theo phân cấp của tỉnh và Chính phủ. Xét, cấp và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong phạm vi được giao.
Vai trò của cấp huyện có nhiều vấn đề cần giải quyết, vì hiện nay khi chuyển từ cơ sở tập trung bao cấp sang phát triển sản xuất hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa. Huyện là địa bàn có vị trí, vai trò quan trọng nhiều mặt trong nền kinh tế quốc dân. Địa bàn huyện rất thuận tiện cho việc hình thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong tổng thể phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo vùng kinh tế. Hiện nay, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội đang quy định vị trí, vai trò của cấp huyện.
Có nguyên nhân lịch sử, như nền sản xuất nhỏ, trình độ kinh tế, văn hóa – xã hội có sự chênh lệch đáng kể. Với vị trí đó là phương hướng xây dựng huyện hiện nay không phải là xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách mà phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện có khả năng, có năng lực, có đạo đức phẩm chất cách mạng và đồng thời huyện phải phát triển, củng cố, sắp xếp, xác định cho đúng chức năng, nhiệm vụ của huyện trong hệ thống hiện nay để khai thác, sử dụng tiềm năng ở mỗi địa bàn khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra. Cấp huyện có mối quan hệ trực tiếp với tỉnh và Trung ương, là địa bàn có điều kiện để kết hợp các ngành, các đơn vị kinh tế, văn hóa do Trung ương hoặc địa phương trực tiếp quản lý thành một cơ cấu kinh tế lãnh thổ nằm trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Địa bàn cấp huyện rất thuận tiện cho việc hình thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ trong 13 Luan van tổng thể phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo vùng kinh tế.
Hơn nữa, cấp huyện còn là địa bàn thuận lợi để kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế và quốc phòng – an ninh. Cấp huyện là một cấp kế hoạch và ngân sách quan trọng, đồng thời là cấp thực hiện quản lý theo lãnh thổ kết hợp quản lý theo ngành. Khái niệm cán bộ, cán bộ chủ chốt, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện + Cán bộ: Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, cán bộ là lực lượng chủ yếu trong các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó đại đa số cán bộ có thể giữ các chức vụ khác nhau. Thuật ngữ “cán bộ” xuất hiện nhiều trong các văn bản chính trị, pháp luật và quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, do trải qua các thời kỳ khác nhau nên khái niệm cán bộ cũng không hoàn toàn đồng nhất. Dưới góc độ khoa học quản lý hành chính nhà nước, cán bộ được coi là những người được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và giữ ngạch cán sự trở lên (để phân biệt với nhân viên có vị trí, vai trò và mức lương thấp hơn cán sự). Do tính chất đặc thù của nền công vụ ở Lào, khái niệm cán bộ được dùng với nhiều nghĩa khác nhau: Khái niệm cán bộ gắn liền với những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên, hội viên hoặc cán bộ là những người công tác chuyên trách hưởng lương trong các tổ chức đảng, đoàn thể. Cán bộ là những người giữ cương vị chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên (cán bộ tiểu đội, đại đội, cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn…) hoặc là sỹ quan từ cấp úy trở lên trong quân đội nhân dân Lào.
Trong hệ thống bộ máy nhà nước, khái niệm cán bộ được hiểu với nghĩa trùng với khái niệm công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước. Đồng thời, họ là những người giữ một vị trí chức danh, chức trách lãnh đạo, quản lý từ phó trưởng phòng và tương đương trở lên đến 14 Luan van huyệntrưởng (về mặt chính quyền) và đến bí thư huyện (về mặt Đảng). Tuy cách dùng, cách thức biểu đạt khái niệm cán bộ có khác nhau nhưng về cơ bản thuật ngữ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là những người lãnh đạo, là chỉ huy. Trong giai đoạn hiện nay, thuật ngữ “cán bộ” được dùng rất phổ biến ở các tài liệu của các cơ quan đảng - công tác đảng, nhà nước về công tác cán bộ, đoàn thể và những lời phát biểu, vận động nhân dân hay dùng gọi đối với những người của Đảng và Nhà nước xuống làm việc với người dân địa phương như: cán bộ tỉnh, cán bộ huyện, cán bộ thuế… Tại Việt Nam thì khái niệm cán bộ được quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
Theo đó có thể hiểu cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm của Việt Nam, tác giả đưa ra khái niệm cán bộ như sau: Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức trách, vai trò nòng cốt trong một tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị, có tác động, ảnh ưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. + Cán bộ chủ chốt: 15 Luan van Chủ chốt là một tính từ chỉ “quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” [31, tr.