Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN 1. Khái niệm, các thuộc tính của chứng cứ và phân loại chứng cứ 1. Khái niệm chứng cứ Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có thể ra các quyết định hoặc bản án dựa trên cơ sở các chứng cứ chứng minh về việc phạm tội cũng như con người thực hiện tội phạm và những tình tiết có liên quan. Việc tiến hành chứng minh làm rõ vụ án là quá trình nhận thức chân lý, sự việc phạm tội đã xảy ra, bằng việc thu thập các tài liệu dùng làm căn cứ để khôi phục toàn bộ diễn biến của vụ án đưa đến một nhận thức đúng đắn mang tính khách quan về sự việc phạm tội và con người phạm tội.
Trên cơ sở lý luận về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì bất kỳ tội phạm nào xảy ra chúng ta đều có thể phát hiện và chứng minh được. Vì vậy, không thể có tội phạm không bị phát hiện, chỉ có điều chúng ta có chứng minh làm rõ vụ án hay không. Về nguyên tắc, hoạt động của con người bao giờ cũng để lại dấu vết trong thế giới khách quan, trong đó có hành động phạm tội. Những dấu vết của hành vi phạm tội có thể được thể hiện dưới dạng vật chất như: dấu vết phạm tội, tồn tại trên công cụ, phương tiện phạm tội, dấu vân tay của người phạm tội để lại trên hiện trường, vết dao đâm của người phạm tội để lại trên nạn nhân… Hoặc được phản ánh, ghi nhận trong trí nhớ của con người có thể là nạn nhân hay người khác… Thu thập những dấu vết này một cách có hệ thống qua quá trình tiến hành tố tụng sẽ đưa đến sự nhận thức đúng đắn bản chất của vụ án, dựng lại được toàn bộ diễn biến của sự việc phạm tội.
Như vậy, chứng cứ là phương tiện duy nhất để chứng minh tội phạm, làm rõ những tình tiết của vụ án. Chứng cứ được quy định trong Luật tố tụng hình 7 sự, tùy vào bản chất giai cấp của mỗi nhà nước và trên cơ sở phương pháp luận nhận thức khác nhau mà có những quy định khác nhau về chứng cứ. Trên nền tảng của học thuyết duy vật biện chứng và thực tiễn cuộc đấu tranh chống tội phạm ở Việt Nam, Điều 86 BLTTHS năm 2015 đã quy định về chứng cứ như sau: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ Luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” [12. Khái niệm chứng cứ trong Luật TTHS Việt Nam phản ánh nội dung và hình thức của chứng cứ.
Về nội dung, chứng cứ là những gì có thật được dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Về hình thức, chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Chứng cứ được phát hiện, thu thập nhằm mục đích chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội và làm rõ những tình tiết khác liên quan đến vụ án để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Các thuộc tính của chứng cứ Chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự được sử dụng làm phương tiện duy nhất để chứng minh tội phạm, làm rõ các tình tiết của vụ án.
Cho nên, bất kỳ thông tin, tài liệu nào chỉ được coi là chứng cứ trong vụ án hình sự khi đảm bảo đầy đủ ba thuộc tính, đó là tính khách quan, tình liên quan và tính hợp pháp. - Tính khách quan của chứng cứ Thuộc tính khách quan của chứng cứ đòi hỏi chứng cứ phải là những gì có thật, tồn tại khách quan độc lập với ý thức chủ quan của con người. Những gì có thật đó phải phù hợp với các tình tiết của vụ án đã xảy ra. Trên cơ sở 8 nhận thức đó những gì là sản phẩm của sự suy đoán chủ quan, không xuất phát từ thực tế khách quan thì không thể là căn cứ chứng minh đối với vụ án hình sự.
- Tính liên quan của chứng cứ Tính liên quan của chứng cứ là sự thể hiện mối liên hệ khách quan của sự kiện có thật với những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự, nghĩa là nó đòi hỏi những gì có thật (sự việc, hiện tượng, dấu vết, tài liệu… phải liên quan đến những vấn đề cần chứng minh đối với vụ án hình sự. Như vậy, không phải bất kỳ cái gì có thật tồn tại trong thế giới khách quan đều trở thành chứng cứ, mà chỉ những cái có thật, liên quan đến những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự thì mới có thể trở thành chứng cứ. Thuộc tính liên quan của chứng cứ không phải bao giờ cũng dễ nhận thấy, cũng dễ xác định mà nhiều lúc rất khó xác định trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó trong công tác điều tra, truy tố, xét xử phải luôn luôn chủ ý thu thập các sự kiện có thật một cách tỷ mỉ, rộng rãi để không bỏ sót mọi sự kiện có liên quan đến vụ án nhưng cũng tránh tình trạng thu thập một cách tràn lan, tùy tiện, thu thập chứng cứ ở một phạm vi quá rộng so với vụ án hoặc quá hẹp so với yêu cầu chứng minh của một vụ án cụ thể.
- Tính hợp pháp của chứng cứ Tính hợp pháp của chứng cứ được hiểu là những gì có thật, liên quan đến những vấn đề cần chứng minh trong vụ án phải được ghi lại, phản ánh lại từ những nguồn của chứng cứ và được thu thập bằng những biện pháp do BLTTHS quy định. Nguồn chứng cứ là hình thức pháp lý mà trong đó chứa đựng những gì có thật, có liên quan đến vụ án hình sự được dùng làm căn cứ để chứng minh 9 tội phạm. Luật tố tụng hình sự đã quy định những loại nguồn chứng cứ sau đây: + Vật chứng; + Lời khai, lời trình bày; + Dữ liệu điện tử; + Kết luận giám định, định giá tài sản; + Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; + Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; + Các tài liệu, đồ vật khác. Khoản 1, 2, 3 Điều 88 BLTTHS quy định: “1.
Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án. Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa. Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án. Từ nội dung trên, thấy rằng chứng cứ ngoài việc phải được rút ra từ những loại nguồn luật định mà còn phải được thu thập bằng những biện pháp được Luật tố tụng hình sự quy định.
Để thu thập chứng cứ, các cơ quan tiến hành Tố tụng có quyền áp dụng các biện pháp thu thập sau đây: 10 + Triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; + Trưng cầu giám định; + Tiến hành khám xét khám người, chỗ ở, nơi làm việc, khám đồ vật, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm th o quy định của pháp luật); + Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; + Tiến hành các hoạt động điều tra khác (hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra… th o quy định của pháp luật); + Yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp tài liệu, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án; Ngoài các cơ quan tiến hành Tố tụng có quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ thì những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào cũng đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án. BLTTHS năm 2015 còn bổ sung quyền tự thu thập chứng cứ của người bào chữa, cho phép người bào chữa có cơ sở pháp lý để tự mình thu thập chứng cứ hoặc đề nghị các cơ quan khác thu thập chứng cứ. Chứng cứ phải được phát hiện, thu thập bởi những người có thẩm quyền do Luật tố tụng hình sự quy định. Để bảo đảm việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ được tốt, tránh sai sót, BLTTHS đã quy định trình tự, thủ tục phải tiến hành để đảm bảo tính khách quan và giá trị chứng minh của chứng cứ, cũng như cấm những việc làm sai trái có thể ảnh hưởng đến giá trị chứng minh của chứng cứ đồng thời nhằm hạn chế tối đa sự lạm quyền của người tiến hành tố tụng.
Mặt khác, để giúp cho việc kết luận bản chất vụ án được đúng đắn, khách quan BLTTHS còn quy định chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá th o đúng quy định của pháp luật nhằm kết luận về tính xác thực và giá trị chứng minh của chứng cứ. Điều 108 BLTTHS quy định về kiểm tra, đánh giá chứng cứ: 11 “1. Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự.
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án. Đã là chứng cứ thì bao giờ cũng tồn tại trong nó các thuộc tính: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.