Đặt vấn đề, phát biểu vấn đề, giải quyết vấn đề, kết luận vấn đề: SƠ ĐỒ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THUYẾT TRÌNH: Khách Kháchthể thể Người học Người dạy Hình 1.1: Sơ đồ phương pháp dạy học thuyết trình 9 Phương pháp thuyết trình có ưu, nhược điểm sau: Ưu điểm: - Dễ thực hiện đối với giáo viên vì có thể tiến hành ngay cả khi không có một phương tiện dạy học nào. - Giúp người học nắm được tri thức một cách có hệ thống và hoàn chỉnh. - Ở một mức độ nhất định, phương pháp thuyết trình có khả năng kích thích tích cực đến tư duy và năng lực chú ý của người học. - Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên làm chủ được thời gian đối với việc truyền thụ tri thức và tác động mạnh mẽ tới tư tưởng, tình cảm của người học thông qua giọng nói và phong cách sư phạm của mình.
Nhược điểm: - Làm người học luôn ở thế bị động tiếp thu kiến thức. - Giáo viên không thể nắm được mức độ nắm bắt tri thức của người học Phương pháp đàm thoại. Đàm thoại thực chất là phương pháp trong đó thầy đặt ra một hệ thống các câu hỏi để trò lần lượt trả lời, đồng thời có thể trao đổi qua lại giữa thầy - trò, trò - trò dưới sự chỉ đạo của thầy. Qua quan hệ hỏi- đáp, trò lĩnh hội được nội dung dạy học.
Như vậy hệ thống câu hỏi- đáp là nguồn cung cấp và lĩnh hội tri thức. Yêu cầu đối với việc đặt câu hỏi: - Xác định mục tiêu câu hỏi. - Mỗi câu hỏi chỉ chứa đựng một vấn đề. - Câu hỏi soạn ngắn gọn dễ hiểu, sát với trình độ phát triển của học sinh.
Phương pháp đàm thoại có những ưu nhược điểm sau: - Ưu điểm: kích thích học sinh tích cực tư duy, rèn luyện năng lực diễn đạt, tập trung chú ý. Giáo viên kịp thời phát hiện những thiếu sót của học sinh để bổ sung. - Nhược điểm: phương pháp đàm thoại dễ gây mất thời gian, ảnh hưởng tới kế hoạch dạy học. 10 Phương pháp làm việc với sách (giáo trình, tài liệu tham khảo ) Sách và tài liệu là nguồn tri thức rất phong phú (đặc biệt là sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo).
Nó giúp người học mở rộng những tri thức thu nhận được qua các bài giảng của giáo viên, tự luyện tập nhờ các bài tập và tự kiểm tra bằng các câu hỏi được nêu trong sách giáo khoa. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, phải luôn có sự kết hợp việc giáo viên giảng bài với việc tự học của học sinh theo sách và tài liệu. Việc dạy học với sách và tài liệu có thể thực hiện qua hai quá trình: - Đọc ở trên lớp: Căn cứ vào mục tiêu bài , người dạy định trước cho người học khi lên lớp đọc những nội dung cần đọc, họ đọc có thể hiểu được. Hướng dẫn đọc- khái quát hóa- báo cáo trước lớp- thầy tổng kết- kết luận- học sinh ghi tóm tắt vào vở theo cách ghi của riêng mình.
- Đọc ở nhà: Người dạy hướng dẫn cho người học đọc những phần nội dung sẽ giảng cho lần sau. Trên cơ sở mục tiêu bài để hướng dẫn cho đọc (nội dung trong sách, tạp chí, bản vẽ, sổ tay kỹ thuật,…), đọc xong ghi thành đề cương, đánh dấu ở đề cương những điều chưa hiểu, khi lên lớp hỏi thầy, trao đổi với bạn, sau đó thầy tổng kết- kết luận. Người học trên cơ sở đó hoàn thiện đề cương của mình. Ngày nay, vấn đề mở rộng phạm vi học tập của học sinh theo sách và tài liệu tham khảo được xem như là một loại phương tiện để học sinh độc lập thu nhận các kiến thức và trang bị cho họ năng lực tự bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Nhiệm vụ của giáo viên khi sử dụng phương pháp này hướng dẫn người học những quy tắc làm việc với tài liệu như phương pháp đọc, tra cứu, lập dàn ý, làm đề cương, ghi tóm tắt… * Xây dựng cơ sở vật chất cho đào tạo. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo trong mỗi nhà trường là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo. Mỗi một ngành nghề đào tạo đòi hỏi hệ thống phương tiện riêng, nhưng chung quy lại 11 thì hệ thống cơ sở vật chất trong nhà trường gồm: phòng học lý thuyết, phòng học thực hành, phòng thí nghiệm, xưởng thực tập, các phòng ban chức năng, thư viện, ký túc xá, các phương tiện dạy học. Theo quy định: - Diện tích dành cho khu học tập, thí nghiệm là 6m2/ học sinh.
- Khu ký túc xá là 3m2/ học sinh. - Mỗi phòng học lý thuyết chỉ được có tối đa là 35 học sinh. Ngày nay, khi chúng ta nói rất nhiều về đổi mới quá trình dạy học bằng việc ứng dụng khoa học công nghệ, đưa phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học thì đòi hỏi mỗi nhà trường cần chú trọng hơn nữa vào việc đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống cơ sở vật chất nhằm đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển của giáo dục nói riêng và của cả xã hội nói chung. Tuy nhiên để việc đầu tư có hiệu quả cần phải tính toán kỹ lưỡng, cân đối giữa nhu cầu thực tế và quy mô đầu tư để tránh lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng đối với các công trình này.
* Xây dựng đội ngũ giáo viên Đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo, vì vậy quá trình xây dựng đội ngũ giáo viên có chất lượng, đảm bảo quy mô và yêu cầu công việc phải xuất phát từ nhiều phía: giáo viên, Nhà trường, quy định của Nhà nước. - Bản thân mỗi người giáo viên: + Về tư tưởng chính trị: đội ngũ giáo viên phải giác ngộ tư tưởng của Đảng lãnh đạo, trung thành với Đảng và có lý tưởng, yêu nghề nghiệp, kiên định với con đường do Đảng và Nhà nước chỉ ra. + Về trình độ chuyên môn: giáo viên phải có kiến thức vững về chuyên môn, nghiệp vụ, luôn phải học tập không ngừng để đảm bảo đổi mới, hoàn thiện nội dung giảng dạy. 12 + Về phẩm chất đạo đức: giáo viên phải là người có tác phong, lối sống lành mạnh, giản dị, tôn trọng đồng nghiệp và học sinh.
Hết lòng yêu nghề, yêu học sinh, vì sự nghiệp giáo dục và vì sự phát triển của đất nước. - Đối với nhà trường: phải có kế hoạch chủ động trong việc quy hoạch, tuyển dụng và phát triển đội ngũ giáo viên, tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên giảng dạy, học tập và cống hiến. Quá trình xây dựng đội ngũ giáo viên phải đảm bảo những yêu cầu sau: + Về mặt số lượng: đảm bảo đủ số lượng giáo viên theo quy mô đào tạo và theo biên chế ngành nghề đào tạo. Đối với môn học lý thuyết tối đa là 1 giáo viên /35 học sinh, đối với môn thực hành là 1 giáo viên / 18 học sinh.
+ Về mặt chất lượng: giáo viên phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên. Đối với giáo viên không tốt nghiệp ở các trường sư phạm thì phải có chứng chỉ sư phạm. * Phương pháp kiểm tra đánh giá * Mục đích của việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh. - Đối với người dạy: + Biết được kết quả giáo dục và đào tạo , trên cơ sở đó làm hoàn thiện và mới hóa nội dung dạy học.
+ Cải tiến hình thức tổ chức và phương pháp dạy học. + Nắm được trình độ lĩnh hội kiến thức , kỹ năng, và thái độ của học sinh - Đối với người học: + Hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức, kỹ năng đã học. + Phát triển năng lực nhận thức. + Lập các lỗ hổng trong nhận thức và kỹ năng thực hành, củng cố và vận dụng chúng vào trong các hoạt động lao động sản xuất khác nhau.
+ Nâng cao tính tích cực va tự giác trong học tập. 13 * Những nguyên tắc chủ yếu khi kiểm tra, đánh giá: - Đánh giá phải phản ánh khách quan thành tích học tập của học sinh. Để đảm bảo nguyên tắc này cần: + Lấy kết quả kiểm, đánh giá đem so sánh với mục tiêu. + Thực hiện các phương pháp kiểm tra khách quan (loại trừ các quan điểm chủ quan của người chấm điểm) - Đánh giá toàn diện: + Đánh giá phải đảm bảo cả hai mặt: chất và lượng.
+ Đánh giá kiến thức, kỹ năng và tư cách, thái độ trong quá trình học tập. - Đánh giá phải đảm bảo tính hệ thống: + Kiểm tra và đánh giá thường xuyên, liên tục tại những bài học hàng ngày. + Kiểm tra, đánh giá sau khi kết thúc mỗi học trình, học phần và kết thúc môn học. - Đánh giá phải đảm bảo tính giáo dục: Thông qua việc đánh giá phải làm thúc đẩy tính tích cực, nỗ lực ở bản thân người học bằng cách: + Lời nhận xét, đánh giá được người học thừa nhận.
+ Không thiên vị tình cảm, nể nang, đối xử riêng tư sẽ tạo ra dư luận không tốt và ấn tượng không đẹp ở người được đánh giá. + Không được kiểm định quá chặt, quá lỏng. Điều này đều dẫn đến sự kìm hãm tính tích cực ở người được đánh giá. + Khi đánh giá, thái độ không được biểu hiện quá gay gắt hay căng thẳng.
* Hình thức kiểm tra - Hình thức quan sát thường xuyên và có hệ thống + Phát hiện thái độ học tập của học sinh + Khả năng tiếp thu + Năng lực chú ý nghe - hiểu từ đó điều chỉnh phương pháp dạy - học phù hợp với từng đối tượng, người học. 14 - Kiểm tra miệng: phương pháp này thường được áp dụng khi kiểm tra bài cũ, giảng xong một phần nội dung thì vấn đáp hết học phần hay môn học. + Cách tiến hành: đặt câu hỏi cho học sinh suy nghĩ và trả lời. Nếu họ không trả lời trúng có thể tách câu hỏi ra từng ý để họ trả lời từng phần, cuối cùng nhận xét và kết luận.
+ Chú ý: Câu hỏi phát ra phải dễ hiểu và vừa sức người học - Kiểm tra viết (kiểm tra tự luận ) Kiểm tra tự luận thường được sử dụng để kiểm tra định kỳ sau khi học xong một chương trình hay một phần, thời gian kiểm tra thường từ một tiết trở lên. Kiểm tra viết cũng có thể sử dụng ngay trong lúc giảng nhưng trong thời gian ngắn, vì vậy có ý nghĩa khảo sát sự chuyên cần của học sinh.