Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công chức và công chức quản lý thị trường 1. Khái niệm công chức Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau giữa các quốc gia, bị chi phối bởi các yếu tố như hệ thống thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước, yếu tố văn hóa, lịch sử.
Do đặc điểm cấu trúc của hệ thống chính trị nước ta, quan niệm về công chức ở Việt Nam cũng có những nét đặc thù. Trước đây, trong một số nghị quyết của Đảng cũng như một số văn bản pháp quy, mặc dù chưa đưa ra được định nghĩa rõ ràng nhưng đã có đề cập đến khái niệm về công chức. Đến năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, cụm từ “cán bộ, công chức” được gọi chung cho những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, nhà nước, đoàn thể. Tuy nhiên, vấn đề ai là “cán bộ”, ai là “công chức” vẫn chưa được phân biệt.
Hiện nay, Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc Hội đã nêu rõ khái niệm về cán bộ, công chức, viên chức. Tại Khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự 11 Luan van nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [1]. Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức.
Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của Việt Nam rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Bên cạnh đó, việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập là phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam, thể hiện và khẳng định được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và công bằng xã hội. Tóm lại, tác giả đưa ra khái niệm công chức như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự 12 Luan van nghiệp công lập.
Khái niệm công chức quản lý thị trường Theo Pháp lệnh Quản lý thị trường số 11/2016/UBTVQH13 ngày 8/3/2016 và Nghị định 148/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Quản lý thị trường quy định: Công chức QLTT là người được tuyển dụng vào làm việc tại cơ quan Quản lý thị trường theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, bổ nhiệm vào các ngạch công chức QLTT. Công chức QLTT phải đảm bảo các tiêu chuẩn của công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể theo ngạch công chức QLTT. Theo Nghị định 148/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Quản lý thị trường số 11/2016/UBTVQH13 ngày 8/3/2016, có 4 ngạch công chức QLTT gồm: Kiểm soát viên cao cấp thị trường; Kiểm soát viên chính thị trường; Kiểm soát viên thị trường; Kiểm soát viên trung cấp thị trường. Công chức QLTT là những người thực thi công vụ nhà nước, có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, công nghiệp, các lĩnh vực khác được pháp luật quy định.
Do vậy, công chức QLTT là những người được hưởng lương và các chế độ khác từ ngân sách nhà nước. Do tính chất công việc đặc thù của QLTT yêu cầu công chức QLTT phải có phẩm chất chính trị cao, có ý thức chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh. Như vậy, tác giả cho rằng, “Công chức QLTT là người được tuyển dụng vào làm việc tại cơ quan Quản lý thị trường theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; phù hợp với những tiêu chuẩn công chức QLTT của cơ quan có thẩm quyền quy định”. Đặc điểm của công chức quản lý thị trường Xuất phát từ khái niệm về công chức quản lý thị trường, chúng ta có thể nhận thấy công chức QLTT cũng là một bộ phận trong đội ngũ công chức nhà nước nên cũng mang những đặc điểm giống với công chức nói chung.
Tuy nhiên, do xuất phát là lực lượng có đặc thù riêng nên công chức QLTT có những điểm riêng nhất định như công chức QLTT chỉ có trong các cơ quan QLTT, có những quyền hạn nhất định và phải đáp ứng một số tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Thứ nhất, QLTT có mã số ngạch công chức riêng và có tên trong bảng lương của Nhà nước theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ và Quyết định số 120/2006/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, công chức QLTT có các ngạch kiểm soát viên cao cấp thị trường, kiểm soát viên chính thị trường, kiểm soát viên thị trường và kiểm soát viên trung cấp thị trường. QLTT được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề.
Thứ hai, công chức QLTT cả nước được trang bị đồng phục, phù hiệu, cấp hiệu, biển hiệu; được trang bị, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện chuyên dùng khác theo quy định của pháp luật (kể cả ô tô, xe mô tô phân khối lớn, thiết bị thông tin liên lạc) để làm nhiệm vụ kiểm tra. Thứ ba, công chức QLTT đảm bảo các tiêu chuẩn ngạch công chức chuyên ngành theo quy định, được cấp Thẻ kiểm tra thị trường để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường và xử phạt vi phạm hành chính. Thẻ Kiểm tra thị trường do Bộ trưởng Bộ Công Thương cấp thống nhất trên phạm vi cả nước. Công chức QLTT chỉ được sử dụng và phải xuất trình thẻ kiểm tra thị trường khi thực hiện hoạt động kiểm tra theo quy định Thứ tư, công chức QLTT chỉ có trong các cơ quan QLTT nhà nước các cấp (các cơ quan tổ chức khác không có công chức QLTT); làm nhiệm vụ 14 Luan van kiểm tra, kiểm soát thị trường và xử phạt vi phạm hành chính và các nhiệm vụ khác của cơ quan QLTT do thủ trưởng cơ quan QLTT phân công.
Thứ năm, do tính chất của nghề nghiệp nên ngoài những việc không được làm theo quy định chung của pháp luật, công chức QLTT còn không được làm những việc sau trong hoạt động công vụ: + Tự ý phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí những nội dung có liên quan đến hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường mà không phải là người phát ngôn, người được ủy quyền phát ngôn theo quy định hoặc phát ngôn làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân khi chưa được phép hoặc chưa có kết luận, quyết định xử phạt theo quy định. + Có cử chỉ, thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi hoạt động công vụ. + Làm tư vấn cho tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác hoặc những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết mà không được phép. + Tham dự ăn, uống, vay, mượn tiền, mua hàng của đối tượng bị kiểm tra hoặc xử lý vi phạm hành chính; lợi dụng hoạt động công vụ được giao để mưu lợi cá nhân hoặc nhận hối lộ dưới mọi hình thức.
Thứ sáu, địa bàn hoạt động của công chức QLTT gồm địa điểm sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thương mại của tổ chức, cá nhân; địa điểm tập kết, trung chuyển hàng hóa, sân bay, bến tàu, bến xe; các tuyến giao thông vận chuyển hàng hóa trên lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ địa bàn hoạt động của hải quan. Vai trò, nhiệm vụ của công chức quản lý thị trường 1. Vai trò Công chức QLTT là lực lượng quan trọng, chủ yếu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan QLTT, đó là thực hiện và giúp các cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, kiểm soát việc thi hành pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước; phòng, chống, xử lý các hành vi kinh doanh hàng hoá nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ; hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm và gian lận thương mại; hành vi vi phạm pháp luật vê bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.