CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 1. Một số vấn đề cơ bản 1. Khái niệm về công chức Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về công chức giữa các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên nhìn chung, công chức là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước các cấp và thực hiện nhiệm vụ chức năng, quyền hạn hành chính nhà nước (Luo & Deng, 2015).
Tương tự, Rhodes (2016) cũng khẳng định công chức là những nhân viên khu vực công của các cơ quan chính phủ quốc gia. Khi đề cập tới định nghĩa về công chức trong nghiên cứu của mình, Çeliksoy (2023) cho rằng công chức có thể được định nghĩa ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo đó, xét theo nghĩa rộng, công chức bao gồm tất cả nhân viên có địa vị pháp lý và địa vị thứ bậc khác nhau trong các tổ chức và cơ quan công quyền (Çeliksoy, 2023; trích trong Gözler, 2002). Còn ở nghĩa hẹp, công chức được định nghĩa là những cán bộ làm việc cho một pháp nhân công quyền với chức danh chuyên môn, chịu sự điều chỉnh của chế độ pháp luật công (Çeliksoy, 2023; trích trong Gözler, 2002).
Tại Việt Nam, ở mỗi thời kỳ khác nhau cũng có quan niệm khác nhau về công chức: Tại Điều 1 Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quy định về quy chế công chức Việt Nam, nêu khái niệm công chức như sau: “Công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 chỉ bàn về cán bộ, công chức nói chung chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ và công chức, giữa cán bộ, công chức trung ương và địa phương. Tại Khoản 2, Điều 1, Luật sửa đổi bổ sung Luật Cán bộ, công chức và luật viên chức năm 2019: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng 13 cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước". Khái niệm chuyển đổi số Chuyển đổi số là một khái niệm quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện đại, được hiểu như một quá trình thay đổi toàn diện nhằm tận dụng các công nghệ số để cải tiến và phát triển tổ chức.
Theo Berghaus và Back (2016), chuyển đổi số bao gồm việc số hóa quy trình với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động và đổi mới sản phẩm bằng cách tích hợp các tính năng kỹ thuật số. Li và cộng sự (2018) nhấn mạnh rằng chuyển đổi số tác động mạnh mẽ đến cơ cấu tổ chức, quy trình, luồng thông tin, và năng lực của doanh nghiệp, tập trung vào sự gắn kết giữa công nghệ thông tin (CNTT) và hoạt động kinh doanh. Tương tự, Robertsone & Lapiņa (2023) định nghĩa chuyển đổi số là một quá trình liên tục, không chỉ làm thay đổi cách tổ chức tạo ra và cung cấp giá trị mà còn mở đường cho việc hình thành các mô hình kinh doanh mới và vận hành trong hệ sinh thái kỹ thuật số. Ngoài ra, Morakanyane & cộng sự (2017) cho rằng chuyển đổi số là một quá trình tiến hóa, trong đó các nguồn lực và công nghệ số được sử dụng để tái cấu trúc mô hình kinh doanh, quy trình vận hành và trải nghiệm khách hàng, nhằm tạo ra những giá trị mới.
Quan điểm của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam cũng khẳng định chuyển đổi số là sự thay đổi toàn diện của cá nhân, tổ chức trong cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất, dựa trên nền tảng công nghệ số. Trong nghiên cứu này, tác giả quyết định kế thừa và lựa chọn định nghĩa của Vial (2021) do đây là định nghĩa đã được phát triển và chắt lọc từ nhiều công trình nghiên cứu đi trước và là định nghĩa được kế thừa rất nhiều trong giai đoạn từ 2021 - 2024. Theo đó, chuyển đổi số là một quá trình nhằm cải thiện, phát triển một cơ quan bằng cách kích thích những thay đổi đáng kể đối với các đặc điểm, thuộc tính của nó thông qua sự kết hợp của các công nghệ thông tin, điện toán, truyền thông và khả năng kết nối. Khái niệm chất lượng công chức Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc”.
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chất lượng công chức là chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng thích ứng của công chức đối với yêu cầu nhiệm vụ chính trị được giao và đảm bảo tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu đặt ra. Đây là một loại lao động có tính chất đặc thù riêng, xuất phát từ vị trí, vai trò của chính đội ngũ lao động này. Chất lượng của công chức thể hiện ở trình độ, năng lực chuyên môn, sự hiểu biết về chính trị - xã hội, phẩm chất đạo đức, khả năng thích nghi với sự chuyển đổi của nền kinh tế mới.
Chất lượng công chức còn bao hàm cả tình trạng sức khỏe cần được đảm bảo để thực thi nhiệm vụ, công việc được giao. Từ những đặc điểm trên, có thể khái niệm: Chất lượng công chức tại đơn vị là một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn diện được thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi công chức tại các cơ quan, đơn vị cụ thể. Khái niệm nâng cao chất lượng công chức trong bối cảnh chuyển đổi số Khi xét tới khái niệm về nâng cao chất lượng công chức nói chung, Nguyễn Văn Tráng (2018) cho rằng: “Nâng cao chất lượng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước là những hành động của các cơ quan hành chính Nhà nước thông qua việc sử dụng các phương pháp, công cụ và cả những chính sách nhằm gây ảnh hưởng lên đội ngũ công chức của cơ quan, và các hoạt động này cần đảm bảo sự phù hợp cả về mặt lượng và mặt chất đối với đội ngũ công chức, hướng tới việc thực hiện hiệu quả của nhiệm vụ mà cơ quan đã được Đảng và Nhà nước giao phó.” Trong bối cảnh chuyển đổi số, các phương pháp, công cụ này cần hướng tới mục tiêu cải thiện năng 15 lực, kiến thức của công chức về chuyển đổi số, về các công nghệ thông minh; các hoạt động nâng cao phải đạt được hiệu quả trong việc thúc đẩy công chức tham gia vào quá trình chuyển đổi số tại đơn vị. Có thể nói rằng, nâng cao chất lượng công chức trong bối cảnh chuyển đổi số là tổng thể các chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng công chức đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn.
Nâng cao chất lượng công chức là một yếu tố quan trọng hoàn thiện bản thân trong mỗi người công chức, là yếu tố quyết định đến hiệu quả tiến trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Bên cạnh thể lực, trí lực thì chất lượng còn phản ánh tác phong, thái độ, ý thức làm việc. Việc nâng cao chất lượng công chức trong bối cảnh chuyển đổi số góp phần làm tăng ý thức, trách nhiệm lao động, góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội. Để phát triển nhanh, bền vững mỗi địa phương cần quan tâm đến chính sách phát huy tối đa năng lực của công chức thông qua nâng cao chất lượng công chức của mình như: đào tạo, đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe cả về vật chất, tinh thần, có chính sách đãi ngộ nhân tài hợp lý, rèn luyện tác phong công nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh chuyển đổi số đặt ra hiện nay.
Theo tác giả của Đề án, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trong bối cảnh chuyển đổi số là việc hoàn thiện những điểm còn hạn chế, thiếu sót, chưa hợp lý về số lượng, chất lượng, những mặt còn yếu kém trong năng lực, phẩm chất công chức sao cho quy mô, tỷ trọng vừa đủ, trình độ phù hợp với vị trí việc làm, kết hợp cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo sức khỏe, tinh thần của người công chức luôn được duy trì ở trạng thái tốt nhất, để họ có thể phục vụ hết mình vì công việc nhằm đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin vào trong hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công trong bối cảnh chuyển đổi số. Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND TP trực thuộc TW 1. Chuyển đổi số và yêu cầu đặt ra đối với công chức CQCM thuộc UBND TP trực Thuộc TW Chuyển đổi số và công tác cải cách hành chính là hai lĩnh vực liên quan mật 16 thiết và bổ trợ lẫn nhau, đóng vai trò rất quan trọng và mang lại nhiều tiện ích cho người dân và doanh nghiệp, là nền tảng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính địa phương (Vũ Thanh Nguyên, 2024). Chuyển đổi số là một bước tiến quan trọng trong việc hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố trực thuộc Trung ương.
Đây không chỉ là việc áp dụng công nghệ vào quy trình làm việc mà còn là một sự thay đổi toàn diện về tư duy quản lý, cách thức vận hành và cung cấp dịch vụ công. Chuyển đổi số giúp tối ưu hóa quy trình, giảm thiểu thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và tăng cường sự tương tác giữa chính quyền và người dân.